TIẾN TRÌNH THÀNH LẬP TẬP HỢP DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN

Standard

Nguồn: Thông Luận

LTS: Trên 20 năm qua Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên vẫn luôn trung thành với ba giá trị nền tảng Dân chủ Đa Nguyên, Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc và Bất Bạo Động. Nhưng gần đây trong tổ chức đã có người khẳng định tuyên bố “Đa nguyên hay đối lập chỉ có ý nghĩa và cần thiết trên phạm vi quốc gia. Trong một tổ chức chỉ có nhất nguyên chứ không thể có đa nguyên”. Vì muốn bảo vệ ba giá trị cốt lõi của tổ chức, chúng tôi đã phải lấy quyết định không đồng hành với những ai ủng hộ lời tuyên bố trên. Chúng tôi xin gởi đến quý độc giả một tài liệu ghi lại theo thứ tự thời gian những bước đi của tổ chức trong nỗ lực tìm kiếm những giải pháp để đưa đất nước vào kỷ nguyên dân chủ đa nguyên, hòa nhịp với đà tiến của thế giới, mưu cầu hạnh phúc cho người Việt Nam. Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên được hình thành do sự kết hợp của nhiều người và nhiều nhóm, đặc biệt là hai nhóm: Thông Luận – hậu thân nhóm thảo luận Cơ Sở Tư Tưởng – và Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu. Trong bài viết này chúng tôi sẽ trình bày những diễn tiến của tiến trình hình thành Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên từ lúc khởi đầu cho đến năm 2016.
I. Việc hình thành nhóm thảo luận về hướng đi cho Việt Nam đưa đến tài liệu Cơ Sở Tư Tưởng
Vào cuối năm 1982 tại Paris, một số những anh em – cùng chí hướng – đã họp với nhau để bàn về tình hình đất nước và có ý lập một nhóm thảo luận chính trị kiểu thinktank, chứ không có ý định lập đảng. Nhóm này đã họp vào tối thứ năm, hai tuần một lần, nên trong bài viết này chúng tôi tạm gọi là nhóm thảo luận Cơ Sở Tư Tưởng. Tất cả đều thấy rằng trước tình trạng bế tắc của đất nước, cần phải có đường hướng, nguyên tắc và chủ trương nhất định để hướng dẫn nhóm đi vào những cuộc thảo luận sâu rộng về mọi mặt của quốc gia như kinh tế, xã hội, chính trị, quốc phòng, giáo dục v.v…

Không kể một vài tháng đầu tìm cách quy tụ người, có thể nói những ngưởi khởi xướng chính thức ngồi lại với nhau thảo luận về vấn đề Việt Nam gồm các ông: Nguyễn Gia Kiểng, Trần Thanh Hiệp, Dương Kích Nhưỡng, Nguyễn Trọng Kha, Nguyễn Văn Lộc, Vũ Tiến Vượng, Phạm Ngọc Lân và bà Quản Mỹ Lan. Ngoài ra, còn một số người khác, trong đó có hai anh em ông Chu Vũ Hoan và Chu Vũ Ca, nhưng chỉ vài ba tháng sau họ thấy không thích hợp với tinh thần thảo luận của nhóm nên đã rút lui.

Nhóm khởi xướng thảo luận như vậy trong gần 2 năm. Và ông Kiểng đã ghi chép lại những gì anh em đã bàn luận. Bản viết tay đó lại được nhóm mổ xẻ, sửa chữa, góp ý và cuối cùng ông Nguyễn Gia Kiểng đã đúc kết và chấp bút tài liệu này, mang tên là Cơ Sở Tư Tưởng.

Anh em trong nhóm đưa ra ba khái niệm chính về một nước Việt Nam, muốn được ổn định để phát triển, thoát khỏi nghèo đói và tụt hậu là:

1. Việt Nam sẽ là một nước với thể chế Dân Chủ Đa Nguyên, nơi tiếng nói của mọi cộng đồng dân tộc đều phải được lắng nghe;

2. Để tiến tới một nước Việt Nam Dân Chủ Đa Nguyên trước hết nhà nước Việt Nam phải xóa bỏ mọi yếu tố gây chia rẽ và thực tâm thi hành chính sách Hòa Giải để Hòa Hợp Dân Tộc hầu đưa đất nước tiến lên;

3. Để hướng tới 2 mục tiêu trên, chúng ta cần đấu tranh trong tinh thần bất bạo động vì máu người Việt Nam đã đổ nhiều rồi nên chúng ta không có quyền đòi hỏi người dân phải hy sinh tánh mạng nữa mà cần phải đấu tranh bằng chính trị, bằng tư tưởng.
II. Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu
Vào năm 1981, khi Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu sinh hoạt ở Strasbourg, một số thành viên trong nhóm đã đi thăm Quốc hội Âu Châu. Trong dịp này, ông Nguyễn Văn Thế đã thấy một tờ giấy giới thiệu (flyer) với tựa đề L’unité dans la différence (Đồng nhất trong sự khác biệt). Trong tờ giấy giới thiệu này, có nói về khái niệm Đa nguyên (Pluralisme).

Từ ý tưởng này, vào năm 1982, nhóm Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã thảo luận về tinh thần Đa Nguyên trong dân chủ trong kì sinh hoạt học tập ”Tìm một tư tưởng và hướng đi mới cho Lực Lượng” ở Lausanne – Thuỵ Sĩ. Đồng thời anh em nhóm Lực Lượng đã chấp nhận tinh thần đa nguyên trong dân chủ là nền tảng cơ sở của tổ chức. Từ đó, các thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã thảo luận về đề tài “Làm thế nào để áp dụng tính đa nguyên vào thực tế của cuộc sống và trong sinh hoạt dân chủ”. Trong nhiều kì sinh hoạt học tập sau đó, các thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã bàn về thuyết âm dương, phép biện chứng của Hegel và Karl Marx cũng như những diễn biến xảy ra trên thực tế của các nước dân chủ Tây và Bắc Âu và cuối cùng đã đi đến bốn kết luận cho việc áp dụng tính đa nguyên của dân chủ vào thực tế: một là tôn trọng và chấp nhận các khác biệt, dù có thể rất đối kháng nhau, cũng là chuyện bình thường của cuộc sống và là động lực làm cho xã hội phát triển; hai là vì lợi ích tập thể, trong đó có lợi ích cá nhân của mỗi người cho nên dù khác biệt thế nào đi nữa, chúng ta vẫn phải hợp tác với nhau để làm việc chung. Vì hợp tác chính là sức mạnh của xã hội dân chủ đa nguyên, giúp xã hội tồn tại và phát triển; ba là để có sự hợp tác giúp tập thể tồn tại và phát triển, chúng ta phải đối thoại và thảo luận để tìm ra những khác biệt của nhau với mong muốn có thể dung hoà và thoả hiệp; bốn là trong xã hội, theo dân chủ đa nguyên, luôn luôn có mâu thuẫn, vì vậy hoà giải là một bắt buộc để có thể hợp tác và làm việc chung với nhau.

Đồng thời trong kì sinh hoạt học tập này, Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu cũng chấp nhận phương pháp tranh đấu bất bạo động là phương pháp mà Lực Lượng sẽ áp dụng để tranh đấu thay đổi chế độ hiện nay. Có ba lí do để các thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu chấp nhận phương pháp này: một là vì nguyên tắc dân chủ không cho phép bạo động, hai là vì bạo lực chỉ làm cho đất nước thêm đổ vỡ và ba là bạo lực không thích hợp với chủ trương của Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu. Cũng trong kì họp học tập này, thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã đồng ý về một bản nhận định về lịch sử loài người với tựa đề “Lịch sử loài người là lịch sử của những giao ước xã hội thành văn và bất thành văn”.

Ban Chấp Hành Trung Ương và Ban Chấp hành các Phân bộ của Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu vào thời điểm năm 1982, gồm có các ông Nguyễn Trọng Kha, Phan Phúc Vinh, Đặng Minh Kỷ, Phạm Xuân Cảnh, Trần Văn Răn, Đinh Văn Ban, Nguyễn Văn Thế, Vũ Đình Thọ, Nguyễn Gia Thưởng, Nguyễn Xuân Thuấn, Nguyễn Thế Vũ, Nguyễn Phú Lộc, Đặng Vũ Chính, Võ Trung Trực, Nguyễn Văn Đang, Hồ Thành Hiệu và Trần Bá Thành.

III. Sự liên kết giữa nhóm thảo luận Cơ Sở Tư Tưởng và Nhóm Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu

Sợi dây liên kết giữa hai nhóm là ông Nguyễn Trọng Kha.

Ông Kha là thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu – trụ sở trung ương đặt tại Lausanne Thuỵ Sĩ – sinh sống ở Paris và cũng có chân trong nhóm thảo luận Cơ Sở Tư Tưởng tại Paris. Chính vì thế ông Nguyễn Trọng Kha đã làm trung gian mang những suy nghĩ, ý kiến thảo luận trong nhóm Lực Lượng qua nhóm Paris và ngược lại những ý kiến của anh em Paris cũng được ông Kha đóng góp lại trong những buổi thảo luận trong nhóm Lực Lượng.

Chính sự trùng hợp về tư duy của hai nhóm về vấn đề đất nước đã đưa đến sự hợp tác tự nhiên giữa hai tổ chức. Điều này là mấu chốt cho sự kết hợp tốt đẹp giữa hai nhóm sau này dù có những thành viên ở những quốc gia xa nhau. Sự kết hợp chưa chính thức lúc ban đầu giữa hai nhóm chính là tiền thân của tổ chức Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên sau này.

Năm 1984, Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu tổ chức một buổi học tập phối hợp với trại hè dành cho gia đình thành viên Lực Lượng tại Fontenette, một làng nhỏ cách Paris hơn 300 cây số về phía Nam, để học tập về dân chủ đa nguyên và tiếp tục bàn về việc làm thế nào để áp dụng tính đa nguyên vào thực tế sinh hoạt dân chủ. Trong dịp này Lực Lượng đã mời ông Nguyễn Gia Kiểng thuộc nhóm thảo luận Cơ Sở Tư Tưởng đến tham dự. Lúc đó, ông Kiểng đã trình bày một chủ đề trong bản Cơ Sở Tư Tưởng bàn về bốn điều kiện cần có để cuộc cách mạng thành công. Điều kiện thứ nhất là mọi người trong nước đồng ý rằng chế độ hiện hữu là tệ hại và phải thay đổi. Điều kiện thứ hai là đảng hay giai cấp cầm quyền, vì mất đồng thuận trên lý tưởng chung hay vì bị ung thối, đã chia rẽ, phân hóa và đã mất bản năng tự tồn của một đoàn thể. Điều kiện thứ ba là đại đa số quần chúng đạt tới đồng thuận về một chế độ mới và những mục tiêu quốc gia mới. Điều kiện thứ tư là có một tập hợp chính trị xuất hiện phù hợp với nguyện ước của toàn dân làm điểm hội tụ cho những khát vọng đổi mới.

Khi Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản tại Hoà Lan tổ chức trại hè Hùng Vương năm 1987, Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã đề nghị Cộng đồng mời ông Nguyễn Gia Kiểng đến trình bày về dự án chính trị có tên Cơ Sở Tư Tưởng này.

IV. Việc hình thành nhóm Thông Luận và tờ báo Thông Luận
Sau khi có bản in Cơ Sở Tư Tưởng, một số người trong nhóm mới nghĩ đến việc phổ biến những tư tưởng này đến với quần chúng bên ngoài. Từ đó mới nẩy sinh ra ý kiến phải cần có một tờ báo!

Nói đến báo thì cho đến thời điểm đó mọi người chỉ biết báo dưới dạng báo ngày, báo tuần, báo tháng như ngày xưa ở Việt Nam hay sau này ở Mỹ. Ai cũng biết làm một tờ báo như vậy thì vô cùng tốn kém, trong khi mọi người trong nhóm dự định làm báo – mới qua Pháp tỵ nạn – không có tiền để thực hiện việc này!

Trong khi đó, tại Paris và vào thời gian đó, bà Quản Mỹ Lan thường nhận được một loại tài liệu của nhóm ông Raymond Barre, cựu Thủ Tướng Pháp. Đây là một loại “thư” 4 trang do nhóm ông R. Barre đưa ra để trình bày về đường lối hoạt động của nhóm mình. Việc này đã khiến bà Mỹ Lan suy nghĩ: Tại sao mình không làm báo dưới hình thức đó? Vì thế, Bà Mỹ Lan đã đưa ra ý kiến này và được anh em chấp thuận. Rồi mọi người trong nhóm góp tiền lại và quyết định ra một tờ báo với hình thức rất đơn giản nhưng có nội dung như các độc giả đã biết. Với số tiền đóng góp của nhóm lúc đó, những người làm báo quyết định phải ra được báo trong vòng ít nhất một năm dù có độc giả mua báo hay không. Tất cả những người trong nhóm đều đồng ý với nhau là tờ báo phải mang nội dung như sau đây:

1. Chỉ đăng những bài vở có tính cách chính trị, có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến Việt Nam. Không có các tiết mục văn nghệ, truyện ngắn, truyện dài hoặc thơ phú v.v…;

2. Không đăng quảng cáo, nói rõ hơn Thông Luận sẽ không sống bằng quảng cáo. Chính vì thế, sau này khi tờ Thông Luận “nổi tiếng”, nhiều nơi muốn đăng quảng cáo trên Thông Luận nhưng theo nguyên tắc đã đề ra từ đầu, nhóm làm báo đã phải từ chối;

3. Sẽ là tờ báo bán, không phải báo biếu hay cho không;

4. Sẽ không đăng lại những bài vở đã đăng trên những báo khác;

5. Với số tiền đóng góp được, anh em làm báo tiên liệu sẽ ra báo được ít nhất là một năm. Sau đó, nếu không có độc giả, không thu được  tiền vào thì ít ra tư tưởng của nhóm cũng đã được phổ biến đến đồng bào!

Quyết định là thế nhưng trong tất cả anh em, không ai có kinh nghiệm làm báo tuy kinh nghiệm viết bài đăng báo thì có! Vả lại, cũng vào thời đó, những người làm báo chuyên nghiệp cũng chỉ viết chữ không dấu rồi đánh dấu bằng tay. Ông Phạm Ngọc Lân là người làm việc trong ngành điện toán đã tạo ra bộ chữ tiếng Việt có dấu trên máy vi tính cá nhân Apple SE để làm báo Thông Luận.

Sau khi giải quyết được vấn đề tài chính và phương tiện kỹ thuật, tờ báo Thông Luận số 0 ra đời!

thongluan_so0
Cuối cùng, được sự ủng hộ của quần chúng, báo bán được!

Khi Thông Luận đã được biết đến, một số những người lâu nay im tiếng đã gia nhập nhóm như các ông Lê Văn Đằng, Huỳnh Hùng. Kế đó, ông Phạm Ngọc Lân giới thiệu ông Tôn Thất Long. Tiếp theo, bà Quản Mỹ Lan giới thiệu ông Nguyễn Văn Huy. Và sau đó ông Vũ Thiện Hân, Nguyễn Văn Khoa vv… cũng vào làm việc chung. Nhóm Thông Luận càng ngày càng vững mạnh với sự cộng tác đắc lực của những người biết trách nhiệm của mình trước vận nước.

Nhóm làm báo chủ trương chỉ gửi báo qua đường bưu điện, chứ không bán tại các sạp báo và tiệm sách. Với khuôn khổ của tờ A4, mọi người có thể photocopy dễ dàng để phổ biến. Người đầu tiên phổ biến Thông Luận dưới dạng photocopy là cựu ký giả Nguyễn Thái Lân ở miền Nam California. Ở Houston, các cảm tình viên của Thông Luận cũng phổ biến tờ báo dưới cùng một hình thức.

Đến đầu năm 1990, qua hội Nhân Quyền Việt Nam tại Hoà Lan, các thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã phát hành ấn bản Hòa Lan có thêm phụ trang để loan tin tức của Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản tại Hòa Lan.

Sau đó, tại một số những nước khác, nhiều người cũng cho in báo Thông Luận có thêm phụ trang. Thí dụ như vào năm 1995, hội An Vi của Linh Mục Kim Định do ông Vũ Khánh Thành tại Luân Đôn đại diện, đã xuất bản báo An Việt, trong đó vừa đăng nguyên văn báo Thông Luận vừa đăng thêm phần bài vở, tin tức của Cộng Đồng người Việt bên Anh.

Chủ nhiệm đầu tiên trong vòng 3 năm đầu của tờ nguyệt san Thông Luận là ông Bùi Quang Hiếu, 3 năm tiếp theo là ông Phạm Ngọc Lân, sau ông Lân là ông Vũ Thiện Hân. Sau đó, là các ông Diệp Tường Bảo, Nguyễn Văn Huy tuần tự phụ trách.

Dưới đây là danh sách chủ nhiệm của tờ Thông Luận, theo thứ tự thời gian:

1. Tháng 11/1987, nguyệt san Thông Luận xuất bản số 0 do ông Bùi Quang Hiếu làm chủ nhiệm cho đến số 33, tháng 12/1990;

2. Tháng 1/1991, ông Phạm Ngọc Lân làm chủ nhiệm bắt đầu từ số 34 và mãn nhiệm vào tháng 12/1993 với số 66;

3. Tháng 1/1994, ông Vũ Thiện Hân làm chủ nhiệm bắt đầu từ số 67 và mãn nhiệm vào tháng 12/2000 với số 143;

4. Tháng 1/2001, ông Diệp Tường Bảo làm chủ nhiệm bắt đầu tứ số 144 và mãn nhiệm vào tháng 8/2002 với số 161;

5. Tháng 9/2002, ông Nguyễn Văn Huy làm chủ nhiệm bắt đầu từ số 162 và chấm dứt nhiệm vụ vào tháng 12/2012 với số cuối cùng 275.
Thông Luận càng ngày càng có uy tín và trong nước bắt đầu xuất hiện “chui” những bản sao và đưa đến sự cộng tác của một số những người chia sẻ quan điểm của Thông Luận trước tình hình Việt Nam. Nhờ chủ trương bao dung và hòa bình đó, sau này những người trong nhóm làm báo đã được một số cán bộ cộng sản lão thành tin tưởng như các ông Nguyễn Hộ, Trần Độ và “nhóm Đà Lạt” – gồm có các ông Hà Sĩ Phu; Mai Thái Lĩnh; Tiêu Dao Bảo Cự; Bùi Minh Quốc – cũng như một số đảng viên phản tỉnh đóng góp bài vở cho báo Thông Luận.

Vì từ ngày đầu anh chị em trong nhóm không lấy một tên gọi chính thức cho nhóm như các tổ chức khác vẫn làm nên từ khi ra tờ báo Thông Luận, bên ngoài gọi “nhóm không tên” này là nhóm Thông Luận.
V. Những va chạm giữa Thông Luận và các tổ chức chính trị khác trong cộng đồng
Trong lúc các tổ chức khác chủ trương giải phóng Việt Nam bằng vũ lực thì Thông Luận lại chủ trương ôn hòa. Có nghĩa là cuộc đấu tranh sắp tới giữa người Việt yêu tự do, dân chủ chống lại Cộng Sản độc tài phải qua con đường bất bạo động.

Chủ trương nhà nước cần phải có chính sách hòa giải, hòa hợp dân tộc tưởng là rất hòa bình và bao dung này lại bị một tổ chức khác đánh phá dữ dội trên phương tiện truyền thông của họ. Chủ trương Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc bị họ bóp méo là Thông Luận chủ trương Hòa Hợp, Hòa Giải với Cộng Sản. Điều này tạo cho những người vốn chủ trương bạo lực có cơ hội làm dấy lên một phong trào chống phá Thông Luận trên các phương tiện truyền thông như báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình tại Hoa Kỳ.

Cao điểm nhất là vụ bạo hành của một tổ chức cực đoan đối với anh em nhóm Thông Luận.

Đó là cuộc hành hung gây thương tích cho hai ông Đặng Minh Kỷ (đại diện Thông Luận Hòa Lan) và Nguyễn Gia Kiểng (Thông Luận Paris) khi anh em nhóm Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu chính thức ra mắt ấn bản Thông Luận Hòa Lan vào ngày 16 tháng 4 năm 1990 tại thị xã Nijmegen – Hoà Lan. Việc này đã được tường trình đầy đủ trong hai số báo Thông Luận 27 và 28, phát hành vào tháng 5 và tháng 6 năm 1990. Trong đó, Thông Luận cũng đã nêu đích danh hung thủ.

VI. Những dự tính kết hợp với các tổ chức khác

1. Vào năm 1990, tại Trung Tâm Độc Lập ở Stuttgart, có cuộc họp bàn về việc hợp tác chung của bốn nhóm: Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu (Thuỵ Sĩ); nhóm chủ trương báo Độc Lập (Đức) của ông Vũ Ngọc Yên; Hiệp hội Dân chủ & Phát triển Việt Nam của ông Âu Dương Thệ (Đức) và nhóm Thông Luận (Pháp). Cả bốn nhóm đã đồng ý trên nguyên tắc là sẽ hợp tác chung.

Nhưng sau một thời gian, nhóm Độc Lập và Hiệp hội Dân chủ & Phát triển Việt Nam đã lặng lẽ tách ra, chỉ còn lại hai nhóm Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu và nhóm Thông Luận. Hai nhóm này tiếp tục làm việc chung và luôn luôn coi nhau như người cùng một nhóm. Có lẽ vì cả hai đều có cùng một cơ sở tư tưởng là dân chủ đa nguyên, hoà giải hoà hợp và bất bạo động nên sự hợp tác không có gì trở ngại.

2. Một thời gian sau khi xuất bản tờ báo Thông Luận – khoảng cuối năm 1991, đầu năm 1992 – thì ông Trần Văn Sơn (Trần Bình Nam) của tổ chức Phục Hưng từ Mỹ sang gặp anh em nhóm Thông Luận Paris và đề nghị kết hợp. Hai ông Nguyễn Trọng Kha và ông Nguyễn Văn Thế, đại diện cho Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu, cùng tham dự buổi gặp gỡ này.

Việc kết hợp này không thành vì một số thành viên của Phục Hưng cho rằng Thông Luận chủ trương hòa hợp, hòa giải với Cộng Sản.

VII. Những nét chính về diễn tiến của Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên
1. Vào ngày 27/10/1990, một cuộc hội luận về Dân chủ Đa nguyên đã được Thông Luận tổ chức tại Paris với sự tham dự của năm tổ chức và thân hữu đến từ 8 quốc gia:

a. Lực Lượng Thanh Niên Viêt Nam Tự Do Âu Châu gồm các thành viên: bà Phạm Tú Minh và các ông: Đăng Minh Kỷ, Nguyễn Văn Thế, Nguyễn Gia Thưởng, Phạm Xuân Cảnh, Phan Phúc Vinh vv…;

b. Nhóm chủ trương báo Diễn Đàn Mới có bà Nguyễn Huỳnh Mai và các ông Đỗ Đình Thành và Nguyễn Văn Lang;

c. Cơ Sở Độc Lập có các ông Vũ Ngọc Yên và Dương Hồng Ân;

d. Nhóm Hiệp hội Dân Chủ & Phát triển Việt Nam gồm có các ông: Âu Dương Thệ, Lâm Đăng Châu và một số thành viên khác;

e. Nhóm Thông Luận Paris có bà Quản Mỹ Lan và các ông: Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Gia Kiểng, Phạm Ngọc Lân, Vũ Thiện Hân, Huỳnh Hùng, Lê Văn Đằng, Nguyễn Văn Khoa, Nguyễn Văn Lộc, Tôn Thất Long, Diệp Tường Bảo, Võ Xuân Minh, Nguyễn Văn Huy, Nghiêm Văn Thạch, Lê Mạnh Tường v.v…

Ngoài những người thuộc các tổ chức kể trên, còn có sự tham dự đông đảo của trí thức Việt Nam đến từ các nơi như:

– Paris có các ông: Nguyễn Văn Ái,  Lê Hữu Khoa, Hoàng Khoa Khôi, Lưu Văn Vịnh, Từ Trì, nữ nghệ sĩ Bích Thuận và bà Thụy Khuê;

– Hoa kỳ có các ông: Đỗ Quý Toàn (Vương Hữu Bột), Trần Văn Sơn (Trần Bình Nam), Đinh Quang Anh Thái và Nguyễn Quốc Trung;

– Canada có ông Tôn Thất Thiện và Nguyễn Hữu Chung;

– Luân Đôn – Anh Quốc có ông Nguyễn Anh Tuấn.
Hoiluan_DCĐN00
2. Năm 1992 Cơ Sở Tư Tưởng được in thành Dự án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên.

Năm 1992 tên Phong Trào Dân Chủ Đa Nguyên ra đời với sự hợp tác chính thức của hai nhóm: Lực Lượng thanh Niên Việt Nam tự Do Âu châu và Thông Luận.

Khi đã hợp tác, Lực Lượng đã in Dự Án Chính Trị Đa Nguyên vào tháng 1/1992 để làm tài liệu học tập nội bộ.

DACT_LLTNVNTDAC

Đến tháng 2/1992, bản chính thức của Phong Trào Dân Chủ Đa Nguyên được phát hành.
DACT1992
3. Vào năm 1996, Dự Án Chính trị  Dân Chủ Đa Nguyên được bổ sung với những vấn đề mới dựa vào những biến chuyển của tình hình trong nước. Dự Án này lấy tựa đề là Thử Thách và Hy Vọng.
DACT1996
4. Năm 2000 Phong Trào Dân Chủ Đa Nguyên chính thức trở thành Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên cho đến ngày nay.

Vào năm 2001, Dự án Chính trị Dân Chủ Đa Nguyên được bổ sung và lấy tên là Thành Công Thế Kỷ 21.

DACT2001
Danh xưng Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên được chính thức đặt cho nhóm vào năm 2000. Trước đây, khi ra tờ báo Thông Luận, nhóm không có tên chính thức. Sau nhiều lần tìm cách kết hợp với những tổ chức khác nhưng cuối cùng thấy rằng khó có thể kết hợp được nên khi bước qua thế kỷ thứ 21, nhóm cần minh danh với tên của mình. Trong một cuộc thảo luận sôi nổi trong Phân Bộ Bắc Mỹ tại San José, nhóm Thông Luận Hoa Kỳ đã đề nghị đặt tên cho nhóm là Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên. Tên gọi này, được toàn thể thành viên chấp thuận. Từ đó, danh xưng Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên trở thành tên chính thức của nhóm.

5. Năm 2015, Dự Án Chính Trị được bổ túc, viết lại và lấy tên là Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai.

bia_khaisang_kynguyen_thuhai_00
Dự Án Chính Trị, từ lúc ban đầu cho đến nay, là do công trình và trí tuệ của tập thể anh chị em trong Tập Hợp chứ không phải của riêng một cá nhân nào.

Về tờ báo Thông Luận, ban đầu nhóm chỉ hy vọng là báo sẽ sống được một năm. Trước khi ra tờ Thông Luận số 1, nhóm làm báo đã in thử tờ báo số 0 (xin xem hình đính kèm ở phần đầu). Địa chỉ tòa soạn của 100 số báo đầu tiên là tư gia của ông bà Phạm Ngọc Lân – Quản Mỹ Lan.

Như vậy kể từ số 1 ra đời vào tháng 12 năm 1998 cho đến số 275, số báo cuối cùng phát hành vào tháng 12/2012, báo Thông Luận giấy tổng cộng đã sống được 25 năm!

Chúng tôi ghi lại những sự kiện ghi trên theo thứ tự thời gian, đồng thời lưu trữ trong thư khố của tổ chức, không ngoài mục đích thực hiện trách nhiệm ghi chép và lưu giữ những công trình gầy dựng tổ chức của tất cả những thành viên đã và đang có mặt trong tổ chức. Tất cả chúng tôi đều mang hoài bão đưa nước Việt Nam vào kỷ nguyên mới của dân chủ đa nguyên.
Ngày 10 tháng 1 năm 2017,
Thay mặt Ban Quản Thủ Thư Khố
Nguyễn Văn Thế – Nguyễn Gia Thưởng – Phạm Tú Minh

PHIẾM MAI KHÔI : ĐIẾM CHẢY

Standard

Cách đây hai hôm (12/01/2017) tui có stt trên FB như sau: “Những việc làm trước giờ của Mai Khôi chỉ màu mè kiếm fan như hàng trăm ca sĩ khác thôi mà. Trước giờ tui coi cổ như pha nên tui hổng ý kiến. Ai biểu ủng hộ cổ để rồi thất vọng ?
Nói vậy chớ, cắc cớ, ai hỏi tui cảm nghĩ gì về cổ thì tui xin thưa đúng hai từ: ĐIẾM CHẢY !”
Rất nhiều người chưa hiểu ý của tui cho nên đi lạc qua chuyện “lá cờ”. Trong số họ thì có con nhỏ cháu mà tui rất thương (trong bụng) viết rằng “… Nếu là con, con cũng làm như cổ.” (tức Mai Khôi)
Để trả lời thiệt ngắn thì không hết ý. Viết dài thì tui có nguy cơ bị tống cổ khỏi hãng. Cho nên câu trả lời dành cho hôm nay (thứ bảy 14/01) vậy.
Xin thưa, trong stt tui KHÔNG CHỦ ĐÍCH đánh giá MK về chuyện “lá cờ” mà tui BẤM HUYỆT cô ta từ trước đến nay. Xin phép để tui miên man tí hén.
Số là hồi năm ngoái tui có suy nghĩ như sau: Ai ai cũng thừa biết bầu cử QH ở xứ vẹm là một trò hề nhưng để bêu rõ thêm cái sự hề đó thì không có cách gì hay hơn là ủng hộ các ứng viên độc lập.
Rồi cái kết quả mà ai cũng thấy là đảng cộng phỉ (thêm một lần nữa) tự nhét phân vào mồm khi đồng loạt những ứng viên QH đều bị loại ngay ở mốc đầu tiên (ngoại trừ trường hợp của ông Trần Đăng Tuấn dù “qua ải” địa phương nhưng cũng bị loại… theo đúng qui trình). Nhân tiện xin nhắc lại một trường hợp cười thòi cả bác đó là trường hợp ông Đỗ Việt Khoa bị loại với lý do rất vẹm : “Để chó iả bên nhà hàng xóm”!
Lúc ấy, bên cạnh một số khuôn mặt các ông bà quen thuộc như Đặng Bích Phượng, Nguyễn Quang A, Trần Đăng Tuấn, Đỗ Việt Khoa hoặc Nguyễn Xuân Diện thì có một khuôn mặt (với tui là) mới tên Đỗ Nguyễn Mai Khôi (MK). Sau khi tìm hiểu xem MK là ai thì tui càng khoái khi biết cổ cũng (tạm gọi) là đồng hương của mình. Cổ là người Cam Ranh, gần xịt Nha Trang hà. Cái “sướng” của tui chợt vụt tắt khi tui nhận ra MK chỉ muốn đánh bóng mình qua các chiêu trò “thả rông vòng một”. Ca sĩ mà! Họ có quyền tạo scandale để média không được phép quên họ.
Có hai dạng ca sĩ cố gắng tạo Xì : một là quá nổi tiếng nhưng giọng hát đang “bên kia núi đâu có gì xanh hơn…”. Hai là quá trẻ, quá tệ mà muốn dùng “tiếng hót ót tiếng bom”. Tui nghe MK “hót” trên mạng thì thất vọng với cái thể loại nhạc chập cheng và giọng hát làm tui nhớ lại bốn năm về trước lúc còn ở khu nhà cũ, có con mèo cái của bà già hàng xóm lúc mùa động đực. Tui từng đề nghị bả triệt sản cho nó mà bả hét lên rồi gườm tui không khác gì lời khuyên dành cho chính bả vậy. Bẵng sau hai năm thì không còn nghe tiếng gào động đực vào hè đó tra tấn nữa. Có lẽ nó chết hoặc nó đi theo trai.
Giọng của MK không tệ như con mèo nhưng cũng không ngọt ngào hơn bà già hàng xóm cũ của tui. Tóm lại là không “gu” của tui. Do đó mà chuyện MK nổ lực kiếm fan thì rất dễ hiểu.
Rồi MK quăng cờ líp muốn gặp Obama (đang ngao du Việt Nam). Trò đó còn được “tăng cường” trên BBC nữa kià. Cuối cùng MK cũng được “đảng và nhà nước ta” cho phép gặp Obama để nói chuyện… kín mà sau đó đại sứ Huê Kỳ phán “VN tôn trọng nhân quyền và tự do tôn giáo”. Tui có quyền nghi ngờ cổ chớ sao. Cái bức hình được ngồi chung với Obama, tui dám cam đoan rằng, sẽ là món gia bảo của cổ truyền cho con cháu không khác gì bức Nguyễn Tất Thành tại đại hội Tours (Pháp) hồi 1920 mà con cháu vẹm cứ sướng rên người.
Thế là thiên hạ cứ tưởng lầm cổ đấu tranh dữ lắm. Tui bắt mạch MK là cổ chẳng có đấu (ngu sao) mà tranh thì hẳn hòi rồi. Tranh gì ? Và tranh với ai ? Xin thưa : tranh tiếng, tranh công và cả tranh thủ fan ! Do đó mà tui coi cổ như pha. Sự việc MK được visa để lông bông một thời gian bên Mỹ từ Washington cho đến Virgina càng làm tui thêm nghi ngờ rằng cổ “có thoả thuận” để giúp cộng phỉ thực hiện NQ36, hoặc nếu không làm điều đó được thì chí ít cũng làm phân hoá cộng đồng người Việt (như bác Triết của cổ muốn “làm phân hoá chính quyền Mỹ” vậy).
MK chỉ muốn tạo dựng bản thân bằng những hình ảnh “được trọng vọng” khắp nơi, được gặp gỡ với những người nổi tiếng (nhưng nông nổi như bà Nguyễn Thị Thanh Bình ở Virgina). Và kết quả được toại nguyện là cả hai (bà) đều nổi lềnh bềnh như rác rưỡi mùa lũ cuốn vậy.
Cổ đi chàng hảng, một bên dựa vào “mức cho phép” của cộng phỉ, một bên dựa vào “sự vồ vập ngây thơ” của một số người Việt ở hải ngoại để khoác hào quang cho bản thân. Sự kiện liên quan đến “lá cờ” chỉ là “cái giới hạn” mà đảng đã cho phép MK mà thôi ! Bởi vậy sẽ không lạ để cổ (phải) thanh minh thanh nga với cộng phỉ rằng “em chả mà chúng…”.
Từ hồi còn con nít tui đã nghe quanh tui chửi câu điếm rạc, điếm đàng, điếm thúi, điếm chảy. Tui không hoàn toàn hiểu nghiã của những tiếng chửi đó nhưng với cái đầu hay tưởng tượng (để vẽ tranh) thì tui cảm thấy chữ điếm chảy là ghê gớm nhứt. “Chảy” làm tui liên tưởng đến chất lỏng, nó luồn lách và thẩm thấu khắp nơi. Hoặc ghê hơn là như cái bịnh iả chảy khiến thân thể bạc nhược ra.
Do đó mà tui (nhái): “Nhìn tổng thể, MK có bao giờ được nổi tiếng như thế này chưa ?”. Xin thưa rằng có nổi tiếng, mà tui nôm na, là ĐIẾM CHẢY.

Viết thêm: Tui rất ghét những người đụng tí là gán ghép cái câu “Xướng ca vô loài” mỗi khi không thích ca/nhạc sĩ nào đó. Nó xúc phạm ghê gớm không khác gì đụng ai khác ý kiến là sẳn sàng đơm ngay cái mũ cối. Tui đã từng lên tiếng nhiều lần về chuyện xúc phạm này rồi, nay nhắc lại để những người nào là “bạn” của tui thì tránh không nên cmt ở “nhà tui” nhen. Nó làm tui mắc cười khi tưởng tượng con bò cứ bắt cái quai hàm lao động, hoặc như lũ DLV nhai mãi “Bạn đã làm gì cho TQ…” mà bản thân nó cũng chẳng biết xuất xứ câu nói đó đến từ đâu.
Về chuyện “lá cờ” thì tui sẽ viết trong stt khác bởi đó là chuyện rất nghiêm túc.

Strasbourg, 14/01/2017
– Vũ Tuân – KVC

BẠN CÓ BIẾT ?

Standard

“Cụ Hồ Chí Minh không chủ tâm làm văn chương, toàn bộ tâm trí của Cụ dành cho sự nghiệp đuổi giặc, cứu nước. Nhưng cũng như nhiều anh hùng dân tộc trong lịch sử, Hồ Chí Minh “trong khi đuổi giặc vẫn làm thơ”. Nhật ký trong tù, tập hợp hơn 100 bài thơ do Cụ sáng tác trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam giữ trong nhà tù Quảng Tây, Trung Quốc là một minh chứng sinh động, thể hiện phẩm chất, tâm hồn của một chiến sĩ cách mạng kiên cường, một nghệ sĩ lớn, có tấm lòng nhân ái bao la”.
Trích bài ” Quyển nhật ký trong tù của Bác”- Nguyễn Tâm đăng trên báo Nhân dân ngày 19/5/1957.
Hóa ra Nguyễn Tâm hay Trần Dân Tiên, hay Trần Lực hoặc CB…cũng đều là bia hơi cả he he…. (chôm từ anh Ngô Nhật Đăng)

Aucun texte alternatif disponible.

THƯ HCM GỞI STALIN VỀ CHƯƠNG TRÌNH CCRĐ TẠI VN

Standard

Tác giả: Nguyễn Thị Từ Huy
Nguồn: http://www.rfavietnam.com/node/2627

Một người bạn thân của tôi nói rằng hiện nay tư liệu về Hồ Chí Minh rất nhiều nên việc giải thiêng không còn cần thiết nữa. Theo tôi, người bạn này sống chủ yếu ở Mỹ nên mới nói như vậy. Bởi vì, một người bạn khác, là giảng viên đại học ở Việt Nam, cho biết rằng sinh viên đang hào hứng tham gia cuộc thi tìm hiểu chủ nghĩa Mác-Lê nin. Dĩ nhiên là tìm hiểu theo định hướng của đảng. Đồng thời, cá nhân tôi, khi tìm thông tin trên mạng thì thấy phong trào học tập tư tưởng Hồ Chí Minh hiện đang được thực hiện một cách rầm rộ ở các trường đại học khắp cả nước, từ Bắc chí Nam.

Tư liệu về Hồ Chí Minh nhiều, nhưng ở Việt Nam,  sách lịch sử chính thống và báo chí chính thống chỉ cho phép công bố và truyền bá những tư liệu được phép của Ban Tuyên giáo. Hãy hình dung rằng cả thế giới biết việc Marx có con riêng, nhưng báo chính thống Việt Nam không thể đăng thông tin đó. Marx hay Hồ Chí Minh đều bị kiểm duyệt, nếu các thông tin làm ảnh hưởng tới cái gọi là « tư tưởng Marx-Lê nin » và « tư tưởng Hồ Chí Minh » mà đảng đã và đang tuyên truyền. Môn lịch sử, cũng như mọi môn khoa học xã hội khác, được dùng làm công cụ tuyên truyền trong các chế độ toàn trị cộng sản. Thậm chí, cách vận hành của hệ thống toàn trị khiến cho bản thân lịch sử cũng biến mất. Đến mức Václav Havel nói rằng trong chế độ toàn trị « không có lịch sử ».

Sẽ rất nhầm lẫn nếu cho rằng người dân Việt Nam hiện nay đã hiểu rõ chế độ của mình. Đáng tiếc, sự thật là, chỉ có một số rất ít người nhìn thấy bản chất của chế độ.

Đấy là lý do khiến những người đấu tranh cho dân chủ ở trong nước nghĩ rằng cần phải đi con đường khai minh, thông qua giáo dục. Tuy nhiên, bế tắc là ở chỗ, một khi trường học bị biến thành công cụ tuyên truyền của chính quyền, với sự hỗ trợ của các tổ chức đảng, của bộ máy an ninh mật, an ninh văn hóa và cảnh sát, thì việc khai minh qua con đường giáo dục trên thực tế sẽ bị cản trở, thậm chí không thể tiến hành được. Hoặc nếu thực hiện được thì cũng chỉ nửa vời, bởi bản thân sự hợp tác, trong xã hội toàn trị, đã bao hàm trong nó sự thỏa hiệp. Nan đề là ở chỗ : sự thỏa hiệp không cho phép thực hiện được mục đích giáo dục khai minh và giáo dục tự do. Liệu có thể giải quyết được nan đề, vừa thỏa hiệp với quyền lực toàn trị vừa thực hiện được một nền giáo dục đích thực ?

Một trong những con đường có thể có hiệu quả hiện nay là truyền thông tự do trên mạng  (trong đối lập với truyền thông tuyên truyền chính thống). Đại lộ thông tin internet là không gian mà những người muốn tiến hành các chương trình khai minh, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí cần sử dụng. Ngoài ra, mọi con đường đều dẫn tới thành Rome. Câu hỏi có lẽ là: bao giờ những người hiện đang đi trên những con đường khác nhau có thể kết nối lại với nhau?

Những người muốn xây dựng Việt Nam thành một quốc gia độc lập, phát triển về kinh tế, khoa học, văn hóa, muốn xây dựng một xã hội dân chủ tại Việt Nam, cần đối diện với khó khăn to lớn này : việc bưng bít thông tin, truyền thông tuyên truyền một chiều, chính sách ngu dân… được thực hiện nhiều thập kỷ nay đã mang lại hậu quả ghê gớm đối với các thế hệ người Việt. Hậu quả đó chính là những bộ não bị đúc khuôn, bị tẩy trắng, mất khả năng tư duy, sẵn sàng tin vào những gì được tuyên truyền mà không hề hoài nghi, không hề đặt câu hỏi. Và mặt khác của vấn đề là ở chỗ những bộ óc như vậy lại tin rằng mình nắm giữ chân lý, rằng những ai khác mình đều là lạc hậu, phản động…

Trong bối cảnh đó, xin giới thiệu lại cùng quý độc giả hai bức thư của Hồ Chí Minh gửi Stalin vào tháng 10  năm 1952 về vấn đề cải cách ruộng đất. Nội dung của chúng  xác nhận rằng Hồ Chí Minh là người thiết kế chương trình cải cách ruộng đất tại Việt Nam, dưới áp lực của Liên Xô và Trung Quốc.  Hai bức thư này đã được một số người dịch và phân tích trên một số website và blog. Ở đây tôi sử dụng bản dịch tiếng Pháp, được giới thiệu trong công trình khảo cứu lịch sử « Le communisme vietnamien (1919-1991) » của nhà nghiên cứu Céline Marangé, in năm 2012, tại Paris. Đồng thời tôi cũng dịch một đoạn phân tích  của Tiến sĩ Khoa học chính trị Céline Marangé về bối cảnh  lịch sử của hai bức thư này, và một đoạn ngắn khác bình luận về tính chất phức tạp của các nhân vật lịch sử và các sự kiện lịch sử Việt Nam. (Nguyễn Thị Từ Huy)

 

I. Phân tích của Céline Marangé về bối cảnh lịch sử của hai bức thư:

Đầu những năm 1950, điện Kremlin vẫn còn rất thận trọng đối với cuộc chiến tranh Đông Dương và nhân vật Hồ Chí Minh. Kremlin chỉ ủng hộ đề nghị gia nhập Liên Hợp Quốc do nước Việt Nam Dân chủ  Cộng Hoà đệ trình ngày 29/12/1959, khi mà 9 tháng sau, Pháp cũng đưa ra một đề nghị tương tự cho « Nước Việt Nam của Bảo Đại » và cho các vương quốc Lào và Campuchia. Tương tự như vậy, khi mà tất cả các đại diện của các đảng cộng sản nước ngoài đã được mời đến dự đại hội lần thứ XIX của đảng cộng sản Liên Xô, Hồ Chí Minh buộc phải viết thư cho Stalin để được mời tham dự. Ngày 30 tháng 9 năm 1952, Hồ Chí Minh gửi cho Stalin một bức điện tín từ Bắc Kinh để xin ông ta cho phép được bí mật tới Moscou. Ngày 2 tháng 10 Stalin cho phép Hồ Chí Minh tới tham dự với hình thức « không chính thức ». Trong thư trả lời Stalin, gửi ngày 17 tháng 10, Hồ Chí Minh đề nghị Stalin cho Liu Shao-qi tham dự vào những thảo luận về Việt Nam. Ba người đó gặp nhau tại Moscou ngày 28 tháng 10 năm 1952. Trước cuộc họp, Liu Shao-qi đã đề nghị Stalin phải nài Hồ Chí Minh để ông ta tiến hành cải cách ruộng đất tại Việt Nam. Hồ Chí Minh lúc đó muốn dừng lại ở việc giảm tiền lĩnh canh. Nhưng khi Stalin yêu cầu ông ta thực hiện một cuộc cải cách ruộng đất theo mô hình cải cách ruộng đất ở Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã chịu thuận theo ý muốn của Stalin. Hai ngày sau, ông viết cho Stalin đề nghị gửi tới Việt Nam hai cố vấn Xô Viết, ưu tiên người nói tiếng Pháp, và đề nghị nhận các sinh viên Việt Nam đến đào tạo tại Moscou, và đặc biệt là cung cấp các vũ khí hiện đại. Hôm sau, ngày 31 tháng 10, Hồ Chí Minh chuẩn y một chương trình cải cách ruộng đất, đã được hiệu chỉnh với sự hỗ trợ của Liu Shao-qi và Wang Jiaxiang, đại sứ đầu tiên của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Liên Xô (1949-1951). Trước khi rời khỏi Moscou, Hồ Chí Minh viết một lá thư cảm ơn Stalin, trong đó một lần nữa ông hứa với Stalin sẽ dành tâm lực vào cuộc cải cách ruộng đất. Những bức thư này mang lại cảm giác rằng Hồ Chí Minh đã chấp nhận tiến hành cải cách ruộng đất để có được vũ khí với số lượng lớn và để tạ lỗi với Stalin, cho đến lúc đó vẫn tiếp tục dè chừng Hồ Chí Minh. Tháng 12, Stalin tuyên bố với Liu Shao-qi và đại sứ Trung Quốc rằng ông ta « về phần mình, đánh giá  Hồ Chí Minh là một người tốt, dù ban đầu thì không tốt ». Khi trở về Việt Nam, Hồ Chí Minh đề nghị Mao Trạch Đông cung cấp các chuyên gia về cải cách ruộng đất và cung cấp các ý tưởng. Ban bí thư trung ương của đảng cộng sản Trung Quốc gửi sang Wang Li, người đảm nhiệm chức vụ « cố vấn tinh thần và ý thức hệ », đồng thời, về sau, đó là một trong những người chỉ huy Cách mạng văn hóa Trung Quốc, trước khi bị bắt vì tội « khuynh tả cực đoan », vào năm 1967. Để đến phụ giúp cho Việt Nam, Wang Li có thêm Qiao Xiaoguang, một chuyên gia về cải cách ruộng đất, người đã lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc vùng Quảng Tây. Ngày 2 tháng 3 năm 1953, tức là ba ngày trước khi Stalin chết, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua một nghị định về việc phân loại bộ phận dân cư ở nông thôn, nghị định này được dùng làm cơ sở pháp lý cho cải cách ruộng đất và cho « tòa án giai cấp ».

(Trích từ cuốn « Le communisme vietnamien (1919-1991) », Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 193-195)

II. Hai bức thư của Hồ Chí Minh gửi Stalin

  1. Thư thứ nhất

Đồng chí I.V. Stalin thân  mến

Tôi đã bắt đầu soạn thảo dự án chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam, và sẽ nhanh chóng trình bày với  đồng chí.

Tôi gửi tới  đồng chí cùng một số yêu cầu sau đây, và hy vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề này.

1. Cử một hoặc 2 đồng chí Liên Xô tới Việt Nam để tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng tại chỗ. Nếu như các đồng chí đó biết tiếng Pháp, họ có thể thể giao tiếp với một tầng lớp rộng rãi. Mất khoảng mười ngày để đi từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi.

2. Chúng tôi muốn gửi 50-100 học sinh sang Liên Xô học tập, họ đã có trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam, một vài người trong số họ là đảng viên và những người khác chưa phải là đảng viên, độ tuổi của họ từ 17-22. Đồng chí có nhất trí về vấn đề này không?

3. Chúng tôi muốn nhận từ các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh (thuốc chống sốt rét) cho quân đội và dân thường, có nghĩa là cứ nửa năm nhận 5 tấn. 

4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau đây :

a) Pháo binh phòng không  37 li cho 4 trung đoàn, tổng số là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.

b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tổng số là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu.

c) Súng máy phòng không 12,7 li cho hai trung đoàn, tổng số là 200 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu. 

Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định sẽ rời khỏi Moscou vào ngày 8 hoặc ngày 9 tháng 11 [1952].

Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và những lời chúc tốt đẹp nhất !

Hồ Chí Minh

30-10-1952

2. Thư thứ hai

Đồng chí I.V. Stalin thân  mến

Tôi gửi đồng chí chương trình cải cách ruộng đất của Đảng lao động Việt Nam. Dự án chương trình do tôi soạn thảo, với sự hỗ trợ của đồng chí Liu Shao-qi và [đại sứ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Liên Xô từ 1949-1951 Wang Jiaxang].

Mong đồng chí xem xét và cho chỉ thị về vấn đề này.

Gửi đồng chí lời chào cộng sản.

Hồ Chí Minh

31/10/1952

(Phụ lục 4, Le communisme vietnamien (1919-1991), Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 534-535)

 

III. Bình luận của Céline Marangé về tính phức tạp của các nhân vật lịch sử và các vấn đề lịch sử của Việt Nam:

Chủ nghĩa cộng sản Việt Nam vẫn còn là một chủ đề nhạy cảm và tương đối ít được khai thác. Kỷ niệm về cuộc chiến tranh Việt Nam, được khơi dậy bởi sự can thiệp của Mỹ tại Irak năm 2003, và đặc biệt là cái kỷ niệm, được người ta thi nhau lý tưởng hóa, về phong trào sinh viên phản đối chiến tranh, cuộc chiến được nhìn nhận như là « chiến tranh vệ quốc chống đế quốc Mỹ », ở Pháp,  kỷ niệm ấy vẫn luôn đảm bảo cho những cảm tình nhất định đối với chế độ cộng sản Việt Nam. Ở phía ngược lại, trong một bộ phận khác của dân chúng Pháp, ký ức về cuộc chiến tranh Đông Dương, thậm chí hoài niệm về Đông Dương thuộc Pháp, vẫn còn chưa tắt hẳn. Ở Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam tiếp tục kích động những thiên kiến tồn tại rất lâu sau khi xe tăng Bắc Việt tiến vào Sài Gòn và sau khi chế độ Miền Nam Việt Nam thất thủ vào ngày 30/4/1975. Đối với những người Việt lưu vong căm thù cộng sản, Hồ Chí Minh bị cố tình biến thành quỷ dữ. Người ta gán cho ông tính cách gian xảo, quỷ quyệt, hay thậm chí cả tính cách  bá quyền mà chắc hẳn ông không bao giờ có. Tương tự như thế, mặc dù tướng Giáp giành được sự khâm phục ở những vị tướng vốn là kẻ thù của ông, nhưng ông thường xuyên bị miêu tả như một kẻ tính toán lạnh lùng, thờ ơ với số phận của lính tráng, và bị xem như một lãnh đạo có quyền lực tuyệt đối. Tai tiếng của hai người này lớn đến mức che lấp hết những nhân tố hàng đầu khác ở họ. Thế nhưng, trong thực tế, không có gì đơn giản. Không ai đơn giản hết. Cả Hồ Chí Minh, cả tướng Giáp đều không đơn giản, và có thể còn phức tạp hơn đối với những lãnh đạo Trung Quốc và Liên Xô đã cố bẻ cong các sự kiện ở Việt Nam. Từ những năm 1960 trở đi, quyền lực phần lớn đã không còn nằm trong tay họ. Những người khác đã nắm giữ quyền lực.

(Trích từ cuốn « Le communisme vietnamien (1919-1991) », Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 29)

MỸ SẼ CHẾ TÀI KẺ VI PHẠM NGÂN QUYỀN

Standard

Thủ phạm đàn áp nhân quyền tại Việt Nam có thể bị Mỹ chế tài

Trà Mi – VOA 25/12/2016

Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng (thứ 2 bìa phải), một trong những nhà hoạt động trong 6 năm qua đã tích cực vận động cho dự luật nhân quyền được Quốc hội Mỹ thông qua.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng (thứ 2 bìa phải), một trong những nhà hoạt động trong 6 năm qua đã tích cực vận động cho dự luật nhân quyền được Quốc hội Mỹ thông qua.

Quốc hội Mỹ ngày 8/12 thông qua một dự luật nhân quyền ‘bước ngoặt’ nhắm vào những cá nhân vi phạm nhân quyền và những giới chức tham nhũng trên toàn cầu.

Luật Magnitsky quy trách nhiệm nhân quyền toàn cầu do Thượng nghị sĩ John McCain và Ben Cardin giới thiệu tại Thượng viện được thông qua chưa tới một tuần sau khi dự luật tương tự do dân biểu Chris Smith và Jim McGovern ra mắt tại Hạ viện được chuẩn thuận với tỷ lệ áp đảo.

Giới hoạt động nhân quyền xem đây là một thành công lớn, một trợ lực quan trọng cho công cuộc cổ súy dân chủ-nhân quyền tại các nước lâu nay bị chỉ trích vi phạm nhân quyền như Việt Nam.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, một trong những nhà hoạt động trong 6 năm qua đã tích cực vận động cho dự luật này được thông qua Quốc hội Mỹ, chia sẻ với VOA Việt ngữ về nội dung và ảnh hưởng của dự luật trừng trị các cá nhân vi phạm nhân quyền trên thế giới đang chờ được Tổng thống ký ban hành, dự kiến trước cuối năm nay.

Thượng nghị sĩ John McCain.

Thượng nghị sĩ John McCain

TS Nguyễn Đình Thắng: Luật này được thông qua ở Hạ lẫn Thượng viện với tỷ số quá bán 2/3, cho nên nếu bị Tổng thống phủ quyết, Quốc hội có thể phủ nhận phủ quyết đó rồi bỏ phiếu lại, cuối cùng cũng phải thông qua. Thứ hai, luật này kèm trong luật chi ngân sách quốc phòng trên 600 tỷ Mỹ. Cho nên, nếu phủ quyết luật này thì các chương trình quốc phòng sẽ bị đình trệ.

VOA: Tầm quan trọng của luật này ra sao?

TS Nguyễn Đình Thắng: Rất quan trọng vì nó hoàn toàn là phương thức mới trong việc chế tài. Trước đây, việc chế tài gắn vào cả quốc gia, nên các nước, kể cả Hoa Kỳ, rất ngần ngại. Chế tài cả quốc gia khó khăn, ảnh hưởng nhiều chính sách khác như hợp tác quốc phòng hay mậu dịch..v..v.v. Ngoài ra, còn có quan ngại rằng chính người dân bị đàn áp ở quốc gia bị chế tài lại chịu ảnh hưởng nhiều hơn trong khi kẻ vi phạm lại phây phây. Bây giờ, luật chế tài này nhắm trực tiếp từng cá nhân các giới chức chính quyền vi phạm nhân quyền trầm trọng.

VOA: Những biện pháp chế tài thấy rõ nhất trong luật này?

TS Nguyễn Đình Thắng: Gồm hai điểm chính. Thứ nhất, cấm nhập cảnh Hoa Kỳ kể cả đi công vụ. Nếu muốn được bãi miễn lệnh cấm này thì Tổng thống phải có sự bãi miễn đặc biệt và phải giải thích với Quốc hội. Thứ hai, chính phủ Mỹ đóng băng tất cả các tài sản của những cá nhân vi phạm nhân quyền, cho dù họ che dấu bằng bất kỳ hình thức nào hay gửi gắm ai đứng tên. Vì sao? Vì trong rất nhiều các nước độc tài, kẻ vi phạm nhân quyền cũng chính là những tay tham nhũng lớn, dấu của cải ở các nước phương Tây. Quan trọng hơn, luật áp dụng với tất cả các loại nhân quyền được quốc tế công nhận. Theo luật này, những người cưỡng đoạt tài sản của nhân dân cũng bị xem là những kẻ vi phạm nhân quyền trầm trọng. Chúng ta biết rằng tình trạng dân oan bị mất đất ở Việt Nam rất phổ biến. Thứ ba, những giới chức tham nhũng mà đi trừng trị những người tố cáo tham nhũng cũng bị xem là vi phạm nhân quyền trầm trọng.

Quốc hội Mỹ ngày 8/12 thông qua một dự luật nhân quyền ‘bước ngoặt’.

Quốc hội Mỹ ngày 8/12 thông qua một dự luật nhân quyền ‘bước ngoặt’.

VOA: Những kẻ vi phạm đó làm thế nào lọt vào danh sách chế tài?

TS Nguyễn Đình Thắng: Con đường thứ nhất, một số Ủy ban của Hạ và Thượng viện Hoa Kỳ có quyền đề cử danh sách lên Tổng thống. Tổng thống có 120 ngày để ra quyết định chế tài hay không. Nếu Tổng thống từ chối không chế tài thì phải giải thích cho Quốc hội biết lý do. Vai trò của xã hội dân sự trong vấn đề này rất quan trọng vì các tổ chức theo dõi nhân quyền trên thế giới cũng có quyền đóng góp ý kiến cho Quốc hội và cho hành pháp Mỹ. Con đường thứ hai, khâu phụ trách Lao động-Nhân quyền-Dân chủ trong Bộ Ngoại giao Mỹ cũng có quyền nộp danh sách lên Tòa Bạch Ốc đề nghị chế tài.

VOA: Mối quan hệ Việt-Mỹ lâu nay dựa trên nền tảng nhân quyền làm điều kiện tiên quyết. Luật này ra đời, quan hệ Việt-Mỹ có thể bị tác động thế nào?

TS Nguyễn Đình Thắng: Chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng. Ngay cả khi hành pháp Mỹ muốn che chắn bớt cho chính phủ Việt Nam vì những lợi ích khác ngoài nhân quyền thì cũng sẽ khó hơn. Khi Quốc hội Mỹ có hồ sơ rõ ràng rằng những giới chức này đã vi phạm nhân quyền trầm trọng theo đúng định nghĩa của luật thì rất khó để bên hành pháp có thể lờ đi.

VOA: Liệu luật này sẽ làm mối quan hệ Việt-Mỹ chùn lại hay là chất xúc tác để thăng tiến hơn?

TS Nguyễn Đình Thắng: Trên nguyên tắc, nó không ảnh hưởng mọi vấn đề đối tác về quốc phòng, mậu dịch, viện trợ…v…v..Thế nhưng, khi các giới chức lãnh đạo Việt Nam nằm trong danh sách chế tài này không qua được Mỹ để công vụ thì sẽ là một sự lúng túng ngoại giao. Luật này đang lan ra rất nhiều nước. Cùng ngày Quốc hội Mỹ thông qua, Quốc hội Estonia cũng thông qua và Tổng thống đã ban hành luật. Hiện cũng có đề nghị luật này ở Canada, Anh quốc, và sắp sửa được đưa ra ở Quốc hội Na-uy.

VOA: Với tình hình nhân quyền Việt Nam, luật này đóng vai trò thế nào?

TS Nguyễn Đình Thắng: Sẽ rất quan trọng nếu chúng ta làm đúng việc, đúng cách. Chẳng hạn trong thời gian qua, chúng tôi có cách thức ‘kết nghĩa’. Cứ mỗi cộng đồng trong nước bị đàn áp như Hòa Hảo, Cao Đài, Tin lành, hay Công giáo…v.v.., chúng tôi lại kèm một nhóm ‘kết nghĩa’ để kết nối, cập nhật thông tin với nhau, liên tục theo dõi. Nếu có một dấu hiệu nào bị đàn áp thì họ lập tức thu thập thông tin và chuyển cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ lập báo cáo nộp cho Liên hiệp quốc hay Bộ Ngoại giao Mỹ. Đó là trước đây. Bây giờ, với luật mới, chúng ta có thể dùng những thông tin đó để đề nghị chế tài những giới chức can dự hay chỉ thị đàn áp người dân. Thành ra, đây là biện pháp để bảo vệ trực tiếp cho người dân bằng sự răn đe rằng người vi phạm sẽ bị chế tài.

VOA: Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi này.

 

MƯA ĐÔNG

Standard

Khẻ khàng từng giọt lià trời
Gọi nhau rụng xuống giữa đời làm mưa…
Long lanh treo nhánh sầu đưa
Giữa đêm nhớ mẹ ầu ơ thật hiền.
Cầu mưa gội lệ ưu phiền.
Bao giờ mới được đoàn viên quê nhà…

-Cuối năm 2016- Hoàng Hạc VT-