Category Archives: Thơ văn

ĐẢNG CSVN, NGÃ BA ĐƯỜNG LỊCH SỬ

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
Bài rất dài của FBker Lang Anh, tui gom về cho quý bà con nào thích thì theo dõi. Còn nếu ai có hứng thú tìm hiểu về con người (bí ẩn) này thì mới vào trang của ổng hén. https://www.facebook.com/Langlanhtu?fref=ts

ĐẢNG CSVN, NGÃ BA ĐƯỜNG LỊCH SỬ: TỒN TẠI VÀ DIỆT VONG?

VaDang

Tranh minh hoạ của KVC

Phong trào cộng sản toàn cầu, được khởi xướng từ những nhà tư tưởng thủy tổ là Marx và Engels, cho đến khi được nhào nặn thành một nhà nước thực tế bởi một người có tư duy thực dụng là Lenin, đã trải qua một thời kỳ dài với những phép thử liên tiếp về mặt tư tưởng. Hầu hết những lý luận cốt lõi của lý thuyết cộng sản đều khá mù mờ, với nền tảng là một xã hội ảo tưởng dựa trên khao khát và hiện nay thì đã bị phủ nhận hoàn toàn. Trong khi đó, con đường mà những đệ tử của Marx tìm cách đến với xã hội chỉ có trong mơ đó thì lại đầy rẫy sai lầm. Kết quả của những phép thử về mặt tư tưởng này là một thế giới bị cày xới bởi những biến động xã hội sâu sắc. Có nhiều triệu sinh mạng đã phải trả giá trong những cuộc chiến đẫm máu, nhiều quốc gia chìm vào vài chục thập niên trong bóng tối để đến lúc nhận ra thì đất nước đã phải trả giá nặng nề và họ lại phải bắt đầu lại từ vạch xuất phát, trong khi phần còn lại của thế giới đã có những bước tiến quá xa trong lộ trình hướng tới văn minh.

Thời hoàng kim của những lý thuyết cộng sản là những năm 1960. Khi đó người ta thống kê được trên dưới 100 quốc gia áp dụng theo hoặc mô phỏng theo các mô hình tổ chức xã hội mang sắc thái cộng sản. Sự đào thải của thực tế là một phép thử rất đắt giá. Ngày nay chỉ còn năm quốc gia tự nhận là hậu duệ của những nhà cách mạng cộng sản, gồm Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Lào và CuBa. Toàn bộ các chế độ cộng sản còn lại đều đã bị lịch sử đào thải. Với 5 chế độ cộng sản còn đang thoi thóp, họ cũng chẳng còn chút bóng dáng nào của những mô hình xã hội mà họ tuyên bố kế thừa. Cốt lõi lý luận của họ đều đã bị chính họ đào thải về mặt thực tiễn, phần còn lại chỉ là một xã hội lai căng quái đản giữa thể chế cai trị độc tài và nền kinh tế thị trường vay mượn từ các nước phương tây. Trong năm quốc gia đó, Trung Quốc đạt được những bước tiến rất mạnh mẽ trong khoảng 45 năm qua và hiện được coi là cường quốc số hai thế giới. Việt Nam có những cải cách vay mượn học theo ở một trình độ thấp hơn và lọt tốp các quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp, trong khi đó, Bắc Triều Tiên thoái lui trở lại thành một xã hội phong kiến, hai quốc gia kế chót còn lại thì đang ngấp nghé bởi những trào lưu hứa hẹn sự tan rã của các chính thể độc tài.

Sự phát triển của Trung Quốc thường được các tay tuyên huấn cộng sản tuyên truyền như một khởi đầu mới của các lý thuyết cộng sản. Trên thực tế, chính bản thân những nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc cũng hiểu rất rõ họ đang đối mặt với sự sụp đổ từ bên trong, và thời gian tồn tại của nền cái trị độc tài cộng sản ở quốc gia này là một chiếc đồng hồ đếm ngược. Sự lai căng quái đản giữa mô hình cái trị độc tài và nền kinh tế thị trường ở Trung Quốc và Việt Nam đã tạo ra những vấn nạn mà các chế độ này không thể tự giải quyết được. Toàn bộ nền tảng lý luận của họ đã bị thực tế phủ nhận và lộ rõ tính ảo tưởng, những đảng viên từ cấp thấp nhất đến cấp cao nhất lâm vào sự khủng hoảng khi không còn lý tưởng soi đường. Trong khi đó, quyền lực độc tài và những món lợi kinh tế được tạo ra từ sự cấu kết giữa quyền lực chính trị và các hoạt động kinh tế tư bản rừng rú đã khiến bộ máy cai trị của họ tha hoá nhanh chóng đến tận gốc rễ. Trên thực tế, tất cả các đảng viên từ cấp thấp nhất đến cấp cao nhất tại Trung Quốc và Việt Nam đều không sống bằng những nguồn thu nhập công khai, họ vơ vét tiền và làm giàu nhanh chóng từ những lợi thế quyền lực và thông tin mà chế độ ban phát cho họ. Bằng cách vay nợ và đánh đổi các giá trị môi trường, Trung Quốc đạt được nhiều thành tích kinh tế ngắn hạn, nhưng đi kèm với nó là sự tha hoá của toàn bộ đội ngũ cầm quyền. Tập Cận Bình khá thực lòng khi phát biểu công khai trong một hội nghị cấp cao của Đảng Cộng Sản Trung Quốc vào năm 2012: “Chúng ta đang phải dựa vào một đội ngũ tội phạm để cai trị đất nước”

Hầu như không còn ai tại Trung Quốc và Việt Nam còn tin rằng chế độ cai trị có thể trường tồn. Câu cửa miệng của các quan chức Trung Quốc khi gửi vợ con và các tài sản vơ vét được ra nước ngoài là: “Cũng chẳng còn được lâu nữa đâu”. Trên thực tế các xã hội như Trung Quốc và Việt Nam từ lâu đã biến thành những xã hội phân biệt đẳng cấp sâu sắc. Nếu có những thống kê thực tế về tài sản của các Đảng viên Đảng cộng sản cỡ trung cao cấp và toàn bộ phần còn lại của đất nước thì chắc chắn rằng hầu hết các tài sản và nguồn lực kinh tế của những quốc gia này đều nằm dưới sự chi phối, sở hữu và thao túng của các hậu duệ cộng sản. Khởi nguồn từ những cuộc đấu tranh giai cấp, nhưng hiện nay chính họ lại là một giai cấp mới, sở hữu hầu kết các nguồn lực kinh tế và sở hữu tuyệt đối về quyền lực chính trị. Tất nhiên, kiểu tồn tại của họ sẽ không thể lâu dài, vì tự thân nó là nguyên nhân của sự diệt vong. Vậy nhưng các nhà nước cộng sản tại Trung Quốc và Việt Nam vẫn đang tồn tại và cố tìm mọi cách níu kéo quyền lực của mình.

Bằng cách tận diệt tài nguyên và đánh đổi các giá trị môi trường, Trung Quốc tạo được nhiều thành tích ấn tượng về phát triển kinh tế ngắn hạn. Đây được coi là thứ bùa thiêng để các nhà tuyên huấn của Đảng Cộng Sản Trung Quốc tuyên truyền nhằm duy trì tính chính danh của mình. Tuy nhiên, đó là sự phát triển không có ngày mai vì đó là sự vay mượn tận diệt từ tương lai để đốt hết cho hiện tại. Trong lúc các vấn nạn về tham nhũng, tha hoá, bất bình đẳng và sự kìm kẹp xã hội đến nghẹt thở càng lúc càng nặng nề. Ở chiều ngược lại là một nền tảng dân chúng ngày một khao khát tự do. Một điều gần giống như thế cũng diễn ra ở Việt Nam, tuy nhiên chế độ cộng sản ở Việt Nam kém thành công hơn trong việc tạo ra các thành tích kinh tế ngắn hạn (điều không may) và đồng thời cũng kém thành công hơn trong việc bóp nghẹt sự giao lưu về các lý tưởng tự do (điều may mắn). Giữa hai chế độ độc tài cộng sản có thể coi là còn hùng mạnh này, Việt Nam có nhiều cơ sở để tạo ra sự đổi thay nhanh hơn Trung Quốc.

Mặc dù biết chắc phía trước là vực thẳm, nhưng đội ngũ lãnh đạo chóp bu ở cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều tin rằng họ có thể trì hoãn được thời gian. Những nỗ lực của họ không phải để hướng tới tương lai mà là để kéo dài cái chết. Điểm kết cuối cùng là những tay cộng sản nặng túi sẽ tìm cách đào thoát khỏi con tàu sắp đắm. Còn những gì diễn ra sau lưng thì có lẽ đúng với câu ngạn ngữ cổ xưa: “Khi trẫm đã thôi trị vì thì dẫu có nạn hồng thủy trên vương quốc cũng mặc”. Có những cách thức để họ có thể thay đổi và trì hoãn ngày tàn, và đó cũng chính là thứ mà các tay lý luận cộng sản cố gắng tìm kiếm. Bài viết này sẽ bàn đến những cách thức đó.

(Đêm đã khuya và đầu thì đang quay quay rồi, xin nợ các bạn phần còn lại vào ngày mai).

(Tiếp theo)

Những người cộng sản ở hầu hết các nước đều giành được quyền cai trị theo những cách thức giống hệt nhau. Bằng những khẩu hiệu tuyên truyền về một xã hội ảo tưởng, họ đặt trước mặt những người nghèo và thất học một cái bánh vẽ và xúi họ vào lò lửa chiến tranh. Tuy nhiên cơn điên dại tập thể cuối cùng cũng qua đi và hầu hết người dân nhận ra mình đã bị lừa vì không hề thấy sự bình đẳng cũng như phồn thịnh ở đâu mà chỉ thấy những ông chủ mới. Cho đến khi hàng loạt chế độ cộng sản sụp đổ vào cuối những năm 1980, nhân loại và chính người dân các nước đó đã phải trả những cái giá quá mức nặng nề. Dẫu sao họ đã gặp may vì cuối cùng cũng thoát khỏi một thứ quái vật ghê sợ trong lịch sử.

Tôi không phủ nhận rằng đã có những lớp người cộng sản sống vì lý tưởng với niềm tin cuồng tín rằng mình duy nhất đúng. Họ sẵn sàng phạm những tội ác không ghê tay để tiêu diệt và buộc những người khác phải nghe mình. Giữa những người cộng sản cuồng tín thời kỳ đầu và những tay đao phủ của nhà nước hồi giáo IS hiện nay có sự tương đồng giống hệt nhau: Khi cắt cổ người, chúng đều cho rằng mình đang làm vì điều đúng.

Với thứ bùa thiêng về một xã hội ảo tưởng, nơi con người có thể hưởng thụ theo nhu cầu bất chấp năng lực tạo ra của cải, những người cộng sản thế hệ đầu đã rất thành công trong việc nhồi sọ và lôi kéo con người. Họ đặc biệt thành công ở những xã hội đói nghèo với nền tảng dân trí thấp. Nhưng có lẽ khả năng trại lính hoá xã hội, triệt hạ tri thức độc lập mới là thứ vũ khí siêu hạng của những người cộng sản. Lenin và những đệ tử của ông ta đã diệt không gớm tay những người Mensevich và Trotsky, dù họ cùng là những đệ tử của Marx. Tất nhiên là bằng chuyên chính vô sản, số phận của trí thức và những kẻ thù giai cấp còn lại thì cực kỳ thê thảm. Mao Trạch Đông diệt hàng chục triệu người và tận diệt mọi tri thức đối lập cũng như các đối thủ chính trị trong Đại Cách Mạng văn hoá. Ở Việt Nam, ông Hồ Chí Minh cũng dìm chết mọi tư tưởng độc lập bằng cuộc thanh trừng nhân văn giai phẩm. Họ hành động rất giống nhau dù quy mô khác biệt nhau và mục đích thì chỉ có một: Tạo ra một xã hội tê liệt về tư duy và chỉ biết cúi đầu. Ở đây có lẽ nên có một nhận xét công bằng, Hồ Chí Minh không tàn bạo như hai tiền bối của ông ta. Trong hầu hết trường hợp, Hồ Chí Minh luôn tìm cách nấp phía sau giật dây và đẩy thuộc cấp ra hứng chịu búa rìu (Trường Chinh với cải cách ruộng đất, Tố Hữu với nhân văn giai phẩm).

Tuy nhiên những xã hội cộng sản đời đầu nhanh chóng đối diện với thực tại mà họ không thể vượt qua. Do xuất phát từ một lý tưởng sai lầm, họ thất bại trong việc tạo ra đủ của cải vật chất nuôi sống xã hội. Mục tiêu về sự công bằng thì lại càng xa vời vì cách thức họ kiểm soát quyền lực độc tài tự thân nó là gốc rễ tạo ra bất bình đẳng. Cuối năm 1980, sự tan rã của hàng loạt nhà nước cộng sản đánh dấu sự cáo chung của phong trào cộng sản toàn cầu.

Trong lúc đó, những người cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam loay hoay tìm cách thay đổi để kéo dài thời gian cai trị. Họ thấy rằng có thể vay mượn nền kinh tế thị trường vốn có năng lực nổi trội để tạo ra của cải ở phương Tây, và dựa vào đó làm bầu sữa nuôi sống cho bộ máy cai trị độc tài của mình. Trung Quốc tiến hành những cải cách cho phép sự hiện diện của đầu tư nước ngoài và kinh tế tư nhân vào cuối những năm 1970. Việt nam nối gót chậm hơn, vào khoảng cuối những năm 1980. Cả hai chế độ cộng sản này đều gặp may, vì các nước phương Tây sau khi chứng kiến sự tan rã của hàng loạt nhà nước cộng sản đã cho rằng sớm muộn gì Trung Quốc hay Việt Nam cũng sẽ phải từ bỏ con đường bế tắc ấy. Vốn nước ngoài và công nghệ đổ vào những đất nước này và tạo ra những nguồn lực mới. Trong khi đó việc giành được quyền tồn tại cũng khiến các lực lượng tư nhân tham gia vào việc tạo ra của cải. Tuy nhiên đây cũng là lúc đánh dấu sự tuyệt chủng của những người cộng sản cuối cùng. Các lợi ích kinh tế được tạo ra cùng với quyền lực độc tài không được kiểm soát đã khiến toàn bộ đội ngũ cai trị tại Trung Quốc và Việt Nam nhanh chóng thoái hóa và đánh mất chút niềm tin lý tưởng cuối cùng. Kết quả là họ trở thành một tập đoàn tội phạm gắn kết với nhau bởi những khẩu hiệu chẳng ai còn tin và các món lời được tạo ra từ bòn rút ngân sách, từ việc lạm dụng quyền lực hoặc kiếm lợi từ lợi thế thông tin bất bình đẳng. Thực tế chế độ cộng sản đã chết từ lâu ở cả Trung Quốc lẫn Việt Nam, còn lại chỉ là một tập đoàn cai trị độc tài tham nhũng dưới cái vỏ cộng sản.

Hai thứ bùa thiêng từng giúp những người cộng sản nắm quyền là cái bánh vẽ về một xã hội bình đẳng thì nay đã chẳng còn lừa gạt được ai khi chính họ đang là một đẳng cấp ưu tiên với mọi đặc quyền. Tuy nhiên, thứ vũ khí siêu hạng còn lại là kiểm soát thông tin và tiêu diệt mọi trí thức có năng lực tư duy độc lập thì họ vẫn đang làm rất tốt. Trung Quốc kiểm soát mạng xã hội cực kỳ ngặt nghèo và thanh trừng khốc liệt mọi trí thức đối lập. Việt Nam cũng đàn áp và triệt hạ không tiếc tay mọi trí thức phản biện với hàng loạt án tù. Bên cạnh đó, họ vẫn tiếp tục cố gắng duy trì hoạt động tuyên truyền để có thể lừa gạt càng lâu càng tốt những thành phần dân trí thấp nhằm kéo dài thời gian tồn tại. Tất nhiên đó là những nỗ lực không có ngày mai vì theo thời gian, khi chứng kiến tình trạng tham nhũng lan tràn, khi đối diện với sự tận diệt môi trường, những món nợ khổng lồ mà những tay cộng sản tham nhũng mang về cho đất nước, sự tuyên truyền của bộ máy cộng sản ngày một mất thiêng. Và cuộc cách mạng Internet đã bồi thêm những đòn trí mạng vào bức màn sắt kiểm duyệt tư tưởng và tuyên truyền của những chế độ cộng sản. Họ càng lúc càng mất khả năng kiểm duyệt và bóp nghẹt các luồng tư tưởng tự do. Bên cạnh đó chính nền kinh tế thị trường mà họ vay mượn từ các xã hội phát triển phương tây đã tạo ra sự hội nhập và giao lưu văn hoá mà họ không thể chặn lại được. Vấn đề mà tất cả các lãnh tụ cộng sản đều nhận ra: Không phải là có tồn tại được hay không mà là còn tồn tại được bao lâu nữa?

Những căn bệnh trầm kha mà Trung Quốc và Việt Nam đang mắc phải gần như giống hệt nhau. Một bộ máy tha hoá tham nhũng đến tận gốc rễ với hiệu năng cai trị ngày càng suy giảm. Các nguồn tài nguyên cạn kiệt và môi trường bị tàn phá nặng nề đến mức mất khả năng duy trì cuộc sống thông thường. Tình trạng bất công lan tràn với nạn lạm dụng quyền lực của bộ máy cai trị đã bị lưu manh hoá. Gánh nặng nợ công đè ngập cổ người dân cộng với mức thuế phí nặng nề trong khi các dịch vụ an sinh xã hội vô cùng tồi tệ.

Nhà lãnh đạo thuộc thế hệ thứ 5 của chế độ cộng sản Trung Quốc là Tập Cận Bình cố gắng tìm lối thoát bằng một cuộc đại thanh trừng với chiến dịch đả hổ diệt ruồi, nhắm mục tiêu vào những đối thủ chính trị của ông ta và những thành phần quan chức tham nhũng không nằm trong phe cánh của Tập. Nhưng hơn ai hết Tập Cận Bình hiểu rất rõ rằng ông ta đang dựa vào một phe cánh tham nhũng để triệt hạ phe cánh còn lại. Cái gọi là đấu tranh tham nhũng của Tập Cận Bình tự thân nó thất bại ngay từ đầu khi không giải quyết được sự cai trị độc tài: Quyền lực độc tài không được kiểm soát tự thân nó là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng. Tập triệt hạ được một phe nhưng nếu Tập tước đoạt quyền lợi hoặc chĩa mũi dùi vào phe cánh đang phò trợ ông ta thì khi đó cái gì sẽ bảo vệ được Tập?

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sau khi thanh trừng được đối thủ chính trị lớn nhất của mình tại đại hội XII có vẻ cũng muốn thừa thắng xông lên với một chiến dịch học theo Tập Cận Bình. Nền chính trị của Việt Nam có độ tản quyền cao hơn và do đó dù có học theo thì Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng chẳng diệt nổi muỗi, chưa nói gì đến ruồi hay hổ. Và mục đích chống tham nhũng tự thân nó mâu thuẫn ngay từ đầu với nền chính trị độc tài.

Lá bài nguy hiểm nhất của Tập Cận Bình nhằm kéo dài thời gian cai trị lại chẳng dính dáng gì đến bộ máy nhà nước hay các tư tưởng tự do. Nó chính là chủ nghĩa dân tộc cực đoan mà nhiều thế hệ lãnh đạo Trung Quốc đã nối tiếp nhau vun xới như một giải pháp dự phòng cho các bất ổn xã hội.

(Khá dài rồi, đành nợ các bạn phần kế tiếp vào ngày mai. Dù sao tôi vẫn còn vài ngày nghỉ nữa 🙂 )

(Tiếp theo)

Chính sách dân tộc và chủ nghĩa bành trướng của Đảng cộng sản Trung Quốc hiện nay vừa là một nguy cơ sinh tồn nhưng cũng đồng thời là bình tiếp oxy hà hơi cho Đảng Cộng Sản Việt Nam. Điều này thoạt nghe có vẻ vô lý nhưng lại là sự thật.

Đất nước Trung Quốc quá lớn, quá đông dân và quá phức tạp. Trong nhiều thiên niên kỷ, người Trung Quốc tồn tại bằng các cuộc chiến tranh xâm lược nối tiếp nhau. Văn hoá của họ được xây dựng trên nền tảng của lối tư duy nô dịch. Vì thế hầu như khó có thể có cơ may nào cho Trung Quốc chuyển hoá sang một thể chế dân chủ trong hoà bình trong ít nhất 30 năm tới. Do đặc tính dân tộc và tính phức tạp của đất nước này, những người cộng sản ở Trung Quốc hiện nay đối diện với nguy cơ bị tàn sát hàng loạt nếu họ để mất dây cương. Riêng cá nhân tôi cho rằng nếu biến động xã hội xảy ra ở Trung Quốc, nó sẽ khiến đất nước này bị chia nhỏ làm nhiều phần. Đó sẽ là câu chuyện trong một tương lai xa. Còn hiện tại, với tư cách là một đại cường, Đảng cộng sản Trung Quốc có nhiều giải pháp để duy trì sự tồn tại của mình hơn là Việt Nam. Nguy cơ Trung Quốc tiến hành các cuộc chiến tranh quy mô nhỏ trong khoảng 10 năm tới là rất cao, và nó sẽ là một công cụ mà Đảng Cộng Sản Trung Quốc vận dụng thường xuyên để đánh lạc hướng và xoa dịu các bất ổn chính trị trong nước. Có thể thấy rõ điều đó qua các phát ngôn ngày càng kiên quyết của Tập Cận Bình về các vùng lãnh thổ tranh chấp. Đó không phải là vấn đề quyền lợi quốc gia, nó giống một chiếc phao cứu sinh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc trong bối cảnh ngày một mất dần tính chính danh trước xu thế thời đại. Chế độ cộng sản ở Trung Quốc rồi sẽ kết thúc, nhưng nó sẽ không chết một mình trước khi gây ra những tổn thương sâu sắc cho phần còn lại của thế giới và cho chính người dân Trung Quốc. Thế giới cần ý thức rất rõ về điều này.

Là một nước có đường biên hàng ngàn km với Trung Quốc và có một quan hệ lịch sử phức tạp với dấu ấn nổi trội là chiến tranh, quan hệ giữa hai chế độ cầm quyền hiện nay ở Trung Quốc và Việt Nam rất phức tạp. Một mặt, họ luôn giống nhau, trước đây là vì ý thức hệ cộng sản cổ điển, giờ đây là sự tương đồng về mô hình cai trị tham nhũng độc tài. Điều đó khiến chế độ cộng sản tại TQ và Việt Nam luôn có nhu cầu tìm đến nhau như những đồng minh thiên nhiên trong bối cảnh thế giới coi họ là những tồn tại khuyết tật của lịch sử. Mặt khác, do là những đại diện cầm quyền tại hai quốc gia giáp giới với những lợi ích đối kháng nhau về lãnh thổ, khiến hai chế độ cầm quyền này không thể không có những va chạm đôi khi đẫm máu. Ở đây tôi muốn dừng lại một chút để nói về những cuộc chiến tranh giành độc lập của Việt Nam trong thế kỷ trước mà Đảng Cộng Sản vẫn luôn dựa vào đó để đề cao tính chính danh của mình. Chính điều này sẽ giải thích đầy đủ cho mối liên kết bất thường giữa chế độ cộng sản tại Việt Nam và Trung Quốc hiện nay.

Là người truyền bá các học thuyết cộng sản vào Việt Nam, nhưng ông Hồ Chí Minh chưa bao giờ là một người cộng sản đúng nghĩa. Tất cả các trước tác ông ta để lại đều cho thấy khó có thể nói ông Hồ am hiểu sâu các tư tưởng của Marx và Engels. Tôi thậm chí tin rằng cả cuộc đời mình chưa bao giờ ông Hồ đọc hết bộ Tư Bản Luận. Trong hồi ức được thuật lại, chính ông Hồ thừa nhận rằng ông ta đến với chủ nghĩa cộng sản chỉ vì đọc được luận cương “Dân tộc và thuộc địa” của Lenin, trong đó có đề cập đến việc xây dựng một liên minh cộng sản để giải phóng giai cấp và giải phóng các nước thuộc địa. Chủ nghĩa yêu nước là thứ đã thôi thúc ông Hồ, cho đến khi ông ta tiếp cận các lý thuyết cộng sản. Việt Nam có một lịch sử lập quốc hơn 2000 năm, trải qua vô số cuộc chiến tranh chống xâm lược. Chủ nghĩa yêu nước là một giá trị cốt lõi luôn hiện diện trong huyết quản người Việt. Sự tồn tại của lòng yêu nước vốn độc lập với các lý thuyết cộng sản. Những người lính đã chiến đấu ở miền Bắc và cả những người lính đã chiến đấu để bảo vệ miền Nam, tôi tin rằng họ đều được thôi thúc bởi lòng yêu nước, vốn được truyền đời qua nhiều thế hệ. Họ đứng ở hai phía khác nhau vì những giá trị quan khác nhau và do sự chi phối của những người cầm đầu. Cuộc chiến ấy miền Bắc đã thắng. Nguyên nhân đã được phân tích rất kỹ càng bởi giới sử gia đông tây, tôi sẽ không lặp lại. Nếu cần có một nhận xét về sự kiện thống nhất 30/04/1975, tôi có thể nói thế này: “Một xã hội văn minh hơn đã bị đè bẹp bởi một xã hội dã man hơn”. Sức mạnh quân sự không phải lúc nào cũng đi kèm với trình độ văn minh, ví dụ cho điều đó trong lịch sử đã có rất nhiều. Ví dụ như cuộc xâm lược khắp Á Âu của đội quân du mục của Thành Cát Tư Hãn với những quốc gia có trình độ khoa học kỹ thuật và văn minh tiên tiến hơn nhiều. Riêng với Việt Nam, 30 năm sau ngày 30/04/1975, đất nước quay lại với những nền tảng căn bản mà người Việt Nam đã đạt được ở miền Nam trước năm 1975, một sự tụt lùi sâu sắc của lịch sử.

Có 4 triệu người đã chết trong cuộc chiến giành độc lập và thống nhất ở Việt Nam. Hầu hết những người lính đã hy sinh ở Điện Biên Phủ, ở Khe Sanh, ở Nam Lào và ở những cung rừng hẻo lánh Trường Sơn đều không phải là đảng viên cộng sản. Họ chiến đấu thuần tuý vì lòng yêu nước. Thậm chí ngay cả những người được kết nạp Đảng tại mặt trận lúc đó, họ cũng chẳng dính dáng hay hiểu gì về các tư tưởng cộng sản. Những người lính ấy đã chiến đấu và chết vì một lý do duy nhất là lòng yêu nước. Chính ở đây là một sự nhập nhèm của những người cộng sản. Lòng yêu nước đã làm nên chiến thắng 30/04/1975 chứ không phải chủ nghĩa cộng sản. Và bản thân lòng yêu nước thì đã luôn hiện diện ở Việt Nam trước, trong và sau khi những lý thuyết cộng sản đến đất nước này. Tôi tin rằng dù có hay không những người cộng sản ở Việt Nam thì đất nước cũng vẫn cứ giành được độc lập bằng cách này hay cách khác, dù là theo lối chiến tranh hay hoà bình, vì người Việt sẽ luôn không ngừng đòi hỏi nền độc lập. Trên thực tế, hầu hết các nước thuộc địa trên thế giới sau này đều đạt được độc lập mà chỉ số ít phải dùng tới chiến tranh. Và vấn đề chính ở đây là những người cộng sản đã tìm cách đánh đồng chủ nghĩa cộng sản (vốn là một thứ ngoại lai) với chủ nghĩa yêu nước (là thứ luôn sẵn có), và quy toàn bộ công lao giải phóng đất nước cho chủ thuyết của họ.

Mượn sức mạnh của lòng yêu nước để đạt được quyền lực và thiết lập được chế độ cai trị, nhưng Đảng cộng sản Việt Nam đánh cắp luôn chiến thắng ấy bằng cách ghi quyền cai trị của họ vào hiến pháp sau ngày thống nhất. Xương máu và tổn thất thuộc về toàn bộ người Việt Nam, nhưng thắng lợi thì chỉ thuộc về mình Đảng Cộng Sản. Trên thế giới hiện nay, có lẽ cũng chỉ có Việt Nam và Trung Quốc là ghi áp đặt quyền cai trị của một Đảng cầm quyền vào hiến pháp. Người dân Việt Nam đã chiến đấu và hy sinh cho nền độc lập, đổi lại là một sự cai trị áp đặt của Đảng cộng sản. Hơn 40 năm qua, họ chẳng có cơ hội lựa chọn nào khác. Đây là một trong những bi kịch lịch sử cay đắng nhất của người Việt.

Tuy nhiên, chúng ta cần công bằng với lịch sử. Tôi tin rằng ông Hồ Chí Minh và những người cộng sản đời đầu đều là những người yêu nước. Chỉ có điều họ đã nhanh chóng đặt Đảng lên trên đất nước ngay khi giành được chiến thắng. Và di sản mà họ để lại đã gây tai họa cho lịch sử đất nước trong nhiều chục năm sau này.

Chế độ cầm quyền hiện nay kế thừa di sản của những người cộng sản đời đầu. Họ hiểu rất rõ là người dân Việt Nam sẽ không chấp nhận bất cứ một chế độ cai trị nào làm tổn hại độc lập hay chủ quyền quốc gia. Và chính đây là lý do dẫn đến mối quan hệ rất phức tạp giữa Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng cộng sản Trung Quốc. Một mặt thì Đảng cộng sản Việt Nam luôn có lý do để xích gần Trung Quốc, khi họ là những thứ tồn tại bị thế giới coi là dị dạng, họ có nhu cầu xiết chặt tay nhau. Đó là lý do ông Nguyễn Văn Linh tìm cách bắt tay với TQ bằng mọi giá ở hội nghị Thành Đô, khi hàng loạt chế độ cộng sản trên thế giới sụp đổ. Mặt khác, chế độ Việt Nam không thể không đối đầu với Trung Quốc khi chủ quyền quốc gia bị xâm phạm. Đây chính là lý do mà chủ quyền Việt Nam cứ từng bước bị tổn thất bởi Trung Quốc trong hơn 30 năm qua, khi bản thân Đảng cầm quyền luôn bị giằng xé giữa việc xích gần kẻ xâm lược và sức ép bảo vệ chủ quyền đến từ phía người dân.

Chủ nghĩa bành trướng hiện là một cứu cánh để kéo dài thời gian cái trị của chế độ cộng sản Trung Quốc, nó khiến chế độ cộng sản Việt Nam đối mặt với nguy cơ lớn nếu để mất chủ quyền. Tuy nhiên cũng chính sức ép này hiện là một trong những công cụ tuyên truyền của chế độ Việt Nam, theo đó quyền cai trị của họ cần được giữ nguyên nếu không đất nước sẽ bất ổn và bị thôn tính. Tôi sẽ quay trở lại câu chuyện về luận điệu tuyên truyền này ở phần kế tiếp.

(Tiếp theo)

Trước khi viết những dòng cuối cùng trong loạt bài này, tôi muốn chia sẻ với các bạn đôi điều. Trên thực tế đối tượng chính nhắm tới của loạt bài viết này là những người cộng sản. Tôi muốn phân tích rõ thực trạng của quá khứ và hiện tại để họ thấy rõ sự ảo tưởng của những người tiền bối của họ và việc hiện nay họ đã bị tội phạm hoá và tha hoá ra sao. Đồng thời tôi cũng muốn làm rõ một thực tế: “Chế độ cai trị này không thể trường tồn”. Họ phải thừa nhận thực tế đó, để hoặc cùng tham gia vào kiến tạo tương lai với phần còn lại của đất nước, khi đó họ sẽ vẫn còn chỗ trong tương lai, hoặc cứ tiếp tục mù quáng tiếp tục đi trên con đường tội phạm và sai lầm hiện tại. Điểm kết cuối cùng sẽ là một cuộc chiến tương tàn, ngoại bang xâm lấn chủ quyền và bản thân họ, với tư cách những kẻ tội đồ mất khả năng cải tạo, bị tàn sát hàng loạt. Tôi cũng không cho rằng những kẻ độc tài chóp bu có cơ hội chạy trốn ra nước ngoài. Kadafi, Saddam Husein, sau những tội ác ghê rợn gieo rắc cho người dân, sở hữu tới hàng chục và hàng trăm tỷ USD, nhưng đều bị tận diệt. Chế độ cộng sản ở TQ có lẽ sẽ tồn tại lâu hơn Việt Nam, nhưng tôi không hình dung ra viễn cảnh các tay cộng sản chóp bu sẽ chạy trốn sang TQ, đó chẳng qua là một địa ngục khác mà sớm muộn cũng thành biển máu mà thôi.

Trong quá trình sắp xếp tư duy cho loạt bài viết này, tôi cũng mong rằng bất cứ ai khác cũng có thể tìm thấy ở đó những kiến giải khác về những sự kiện lịch sử đã và đang diễn ra. Tất nhiên, quá khứ và hiện tại sẽ là cơ sở để soi đường cho tương lai. Qua những mất mát, cay đắng và sai lầm, chúng ta sẽ biết đâu là con đường cần đi và điều gì người Việt Nam cần hướng tới.

Tôi muốn làm rõ một thực tại cuối cùng trước khi đi vào mạch trao đổi kế tiếp: Những người cộng sản thế hệ của ông Hồ Chí Minh, khi tin vào lý thuyết cộng sản, bản chất là đã tin vào một con đường không có lối ra. Lý thuyết của Marx về một xã hội công bằng tuyệt đối là một sự lừa bịp và ảo tưởng. Chừng nào loài người còn tồn tại, sẽ luôn có sự khác biệt giữa người với người. Có những người có năng lực tạo ra của cải cao hơn, và do đó họ sẽ phải có quyền thụ hưởng cao hơn người khác. Sẽ là cực kỳ vô đạo đức và cực kỳ đê tiện nếu người ta bắt những người như Bill Gate hay Steve Job phải có mức thụ hưởng cào bằng như bất cứ ai, trong khi đóng góp của họ cho văn minh nhân loại là vượt trội so với đại chúng. Nếu ngay tại thời điểm này, toàn bộ của cải của thế giới được chia đều cho bất cứ ai tồn tại trên trái đất, thì chỉ một giây sau, sẽ lại có sự chênh lệch giữa người với người. Vì những người có năng lực sáng tạo và tài năng hơn, sẽ luôn tạo ra được của cải nhiều hơn trên những gì họ có. Một xã hội theo hình dung của Marx chỉ là một xã hội ảo tưởng và hoàn toàn lừa phỉnh. Ngay cả việc những kẻ cuồng tín cộng sản có nắm được quyền hành và chia đều tất cả của cải, thì ách cai trị của chúng sẽ chỉ dẫn tới sự triệt tiêu sáng tạo của nhân loại: “Những người tài năng hơn sẽ lười đi vì họ không thể cứ mãi làm cho người khác hưởng, còn những kẻ lười biếng sẽ càng lười hơn vì chúng sẽ trông đợi người khác tạo ra của cải để chia cho mình”. Sự thất bại của Liên Xô, Việt Nam và tất cả các nước cộng sản trong quá khứ trong việc tạo ra các giá trị vật chất so với phương tây có căn nguyên gốc rễ chính từ sự ảo tưởng và bịp bợm ngay từ đầu trong lý thuyết mà họ tôn sùng. Tôi có một hình dung rất rõ ràng về tương lai nhân loại, đó sẽ là một xã hội văn minh, khuyến khích sự sáng tạo của con người. Những người tài năng và chăm chỉ sẽ vẫn luôn có sự thụ hưởng vượt trội đám đông. Ngược lại, các chính sách xã hội và tái phân phối thu nhập sẽ điều tiết một cách nhân văn, để bất cứ công dân nào của nó cũng có cơ hội có một mức sống tối thiểu, được học hành, được chăm sóc y tế, bình đẳng trước luật pháp, và điều quan trọng nhất là họ sẽ có cơ hội được vươn lên trong nhóm Top đầu, khi họ có tài và chăm chỉ. Hiện nay nhiều xã hội phương Tây, đều đã ngấp nghé xây dựng được những cơ sở có thể nói là bền vững cho một xã hội như vậy. Và chắc chắn đó không phải là thứ chủ nghĩa cộng sản ảo tưởng, vốn đã gây bao tai họa cho nhân loại của Marx cũng như những đệ tử của ông ta.

Quay lại Việt Nam, tôi cho rằng những người cộng sản thuộc thế hệ đầu tiên là những người yêu nước và có lý tưởng. Nhưng họ chính là một đám cuồng tín luôn tin rằng mình duy nhất đúng và sẵn sàng tiêu diệt không thương tiếc những ai khác ý kiến với mình. Về mặt này, họ không khác gì nhà nước hồi giáo IS hiện nay, chúng phạm những tội ác không gớm tay nhưng vẫn luôn tin rằng mình đúng. Tôi kính trọng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông ấy là một danh tướng và là một anh hùng dân tộc. Nhưng cũng chính ông Giáp là người đã tiến hành những chiến dịch tàn sát thẳng tay với những người Quốc dân đảng vào năm 1946, khi họ cũng có chân trong chính phủ lâm thời. Họ vốn là hậu duệ của anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học và nhiều tiền bối khác, nhưng họ có niềm tin lý tưởng khác những người cộng sản. Lịch sử sẽ ghi công ông Giáp với tư cách một anh hùng, nhưng cũng chính niềm tin cuồng tín là thứ thúc đẩy ông ta phạm vào những tội ác ghê gớm với chính đồng bào mình. Những vụ trấn nước, thủ tiêu, ám sát của những người cộng sản cuồng tín giết hại một số lượng không nhỏ người Việt Nam, và phần lớn trong số đó cũng chính là những người yêu nước. Một lý tưởng sai lầm và sự cuồng tín mê muội chính là đặc trưng căn bản của những người cộng sản thế hệ của ông Hồ Chí Minh. Họ để lại một di sản sai lầm và những kẻ hậu duệ của họ biến đi sản ấy thành một thứ quái vật tiêu diệt mọi tiềm năng đất nước.

Khi những hậu duệ cộng sản ở Việt Nam lựa chọn nền kinh tế thị trường và cố bấu víu nền cai trị độc tài, họ đã vi phạm mọi nguyên tắc căn bản nhất để tạo ra một xã hội minh bạch và công bằng về mặt cơ hội phát triển cho con người (tôi muốn nhấn mạnh là công bằng về cơ hội phát triển cho con người, chứ không phải công bằng về thụ hưởng). Bộ máy cai trị độc tài với quyền lực không được kiểm soát, đã nhanh chóng biến tất cả những thành phần của Đảng cộng sản Việt Nam thành một đẳng cấp ưu tiên. Sự kìm kẹp và tiêu diệt mọi tư tưởng độc lập của giới trí thức đã tạo ra một xã hội cúi đầu. Chút lý tưởng cộng sản họ không còn vì thực tại đã cho thấy lý thuyết của Marx chỉ là ảo tưởng. Khi một đám người không còn lý tưởng và nắm quyền lực tuyệt đối trong tay, chúng nhanh chóng tha hoá và biến thành tội phạm. Hiện nay bộ máy của chế độ cộng sản Việt Nam gồm hầu như toàn bộ là những kẻ vô đạo đức, tham nhũng cả về vật chất lẫn quyền lực. Sự lưu manh hoá của họ lớn dần theo thời gian và gây ra những bức xúc ngày một lớn trong xã hội. Mọi chủ trương, mọi định hướng, mọi chính sách phát triển quốc gia đều chỉ đẹp trên khẩu hiệu và bị bộ máy tham nhũng bóp méo thành những thứ đem lại lợi ích cá nhân. Các khoản đầu tư công, các chính sách phát triển… hầu như mọi thứ đều trở thành nguồn tham nhũng của bộ máy công quyền. Bộ máy ấy khiến hiệu suất vận hành của nhà nước càng ngày càng giảm, càng ngày càng tệ hại, càng ngày càng khiến những nguồn lực của quốc gia bị teo tóp. Những cơ hội phát triển nối nhau bị bỏ lỡ. Tất cả họ đều nhúng chàm, tất cả họ đều là tội phạm. Mức độ thì ngày một tệ hại hơn theo thời gian cho đến khi nào quyền lực độc tài của họ bị tước bỏ. Tôi muốn dành đôi lời để nói với những đảng viên cộng sản còn có lương tâm: Liệu có ai trong các vị dám đặt tay lên ngực và thề với lương tâm của mình, với tương lai con cháu mình, rằng các vị đang sống bằng nguồn thu nhập sạch, chứ không phải là nguồn tiền phi pháp. Có lẽ cũng có những người cộng sản, những công chức cấp thấp bị gạt bên lề guồng máy ăn chia và họ phải bươn trải sống bằng những sinh kế khác có từ sức lao động của họ. Tuy nhiên số đó nếu không muốn nói là ít thì sẽ là rất ít.

Sự tồn tại của chế độ độc tài tham nhũng ở Việt Nam đang là thứ tạo ra hầu hết bất công và làm băng hoại đạo đức xã hội. Thế hệ trẻ giờ đây lớn lên không còn có niềm tin, khi họ chứng kiến những kẻ nắm vị trí cao trong xã hội lại là những kẻ vô đạo đức nhất, giả dối nhất. Chưa bao giờ đất nước mất phương hướng và mất niềm tin như hiện nay. Sự tham nhũng và bộ máy trì trệ đang tàn phá hầu hết nguồn lực và cơ hội phát triển quốc gia. Bộ máy tham nhũng và vô đạo đức hiện nay không những cản trở xã hội đi lên, mà nó còn tiếp tay cho cái xấu và gây ra tàn phá. Thảm họa Fomosa, có thể nói bản chất là sự cấu kết giữa đám quan chức tham nhũng với những nhà tư bản bất lương. Ở những quốc gia mà thể chế minh bạch và phục vụ người dân, chắc chắn sẽ không có cơ hội cho những kế hoạch đầu tư tàn phá quốc gia, và nếu có, nó cũng sẽ bị chặn lại nhanh chóng và thủ phạm sẽ phải chịu sự trừng phạt nặng nề. Tôi rất muốn hỏi ông Nguyễn Phú Trọng đã nghĩ gì khi đến thăm Formosa giữa lúc toàn bộ biển miền Trung bị hủy diệt, và ông ta đã nghĩ gì khi sau đó ít tháng Formosa chịu khoản phạt 500 tr USD, một số tiền quá nhỏ so với những hủy diệt lâu dài mà họ gây ra đối với toàn bộ môi trường biển Việt Nam. Đây chỉ là một câu hỏi nhỏ và tôi biết chắc nó sẽ không bao giờ được trả lời.

Cuộc cách mạng Internet hiện nay đã khiến vòng kiểm tỏa của Đảng cộng sản về mặt thông tin hoàn toàn thất bại. Họ đã cố gắng hạn chế và chặn lại mạng xã hội nhưng thất bại. Trong những nỗ lực tuyệt vọng, họ thậm chí đã dùng tới giải pháp hạn chế băng thông giao lưu quốc tế khi có những sự kiện nhạy cảm diễn ra. Thuật ngữ “Cá mập cắn cáp viễn thông quốc tế” là một thực tế được sáng tạo ra bởi cơ quan kiểm duyệt tư tưởng của Đảng. Chế độ hiện nay không thể chặn được việc giao lưu thương mại, đầu tư, văn hoá của Việt Nam với phần còn lại của thế giới. Họ cũng không thể chặn lại sự giao lưu về tư tưởng và khao khát ngày một lớn về tự do, về quyền con người và về quyền công bằng giữa người với người trong việc có cơ hội giống nhau để vươn lên. Tôi rất buồn cười khi ông Nguyễn Xuân Phúc khuyến khích những người trẻ Việt Nam khởi nghiệp, ông ta nói đến Google, đến Facebook .. trong khi những điều đó được tạo nên trên nền tảng của tự do ngôn luận, thứ mà chế độ ông ta phục vụ luôn tìm cách kiểm duyệt và bóp chết. Tôi không rõ Zukerberg sẽ làm được cái gì nếu Mỹ là một nước kiểm soát về tự do ngôn luận, chắc chắn là facebook sẽ bị bóp chết ngay từ những dòng code đầu tiên.

Những người cộng sản hiện nay hiểu rất rõ họ là ai và thực tại thế nào. Vì thế từ nhiều năm nay những khẩu hiệu minh bạch mà họ hô hào hàng năm đều chỉ là những thứ sáo rỗng và loè bịp. Họ kê khai tài sản nhưng chỉ kê cho riêng họ xem, cũng chỉ có trời mới biết lũ tội phạm ấy kê gì và dấu của cải của chúng ở đâu. Họ hô hào chống tham nhũng chỉ để cho có, vì toàn bộ họ đều nhúng chàm. Thỉnh thoảng có một kẻ kém may mắn bị loại bỏ giữa các màn đấu đá phe cách và bị lôi ra làm thịt nhằm loè bịp người dân. Gần đây tôi có đọc một phát ngôn báo chí của Bộ Tài Nguyên, theo đó bộ này 10 năm qua không có tham nhũng, trong khi bất cứ ai cũng biết rõ một trong những cái ổ tham nhũng nhức nhối nhất chính là các cơ quan công quyền quản lý đất đai. Sự vô đạo đức và gian trá đã đạt đến đỉnh cao với những kẻ cộng sản độc tài hiện tại.

Nguồn lực của đất nước đang bị đánh cắp, cơ hội phát triển của đất nước đang bị tiêu diệt, và chủ quyền của đất nước thì đang ngày càng nguy ngập, vì với một bộ máy cai trị dễ dàng mua được bằng tiền, chúng cũng dễ dàng bán rẻ lợi ích quốc gia.

Tất cả những bất cập trên đều sẽ là những thứ khiến chế độ cộng sản hiện nay rồi sẽ phải chấm dứt. Trong nhiều năm qua, đảng cộng sản tuyên truyền về công lao của họ trong phát triển kinh tế quốc gia. Họ lờ đi thực tế là tài nguyên đất nước, môi trường sống vốn là những của cải cần được sử dụng dè xẻn và để lại cho đời sau thì nay đã bị họ đốt hầu hết cho hiện tại, mà phần lớn trong số đó đã rơi vào túi những tay tham nhũng. Và số nợ mà chế độ này đã vay thì đã vượt quá khả năng cân bằng của họ. Tất nhiên chế độ này khi kết thúc sẽ không trả nợ, người trả chính là người dân Việt Nam. Và tình trạng nợ công của Việt Nam đến nay đã cực kỳ nguy ngập. Từ năm 2016 trở về trước, người ta nói về số liệu nợ công đã vượt ngưỡng trần tính trên tỷ lệ GDP và năng lực cân đối dòng tiền của ngân sách. Từ lúc ông Nguyễn Xuân Phúc nắm quyền cho đến khoảng tháng 9/2016, chính phủ của ông ta đã vay nợ ròng thêm trên dưới 8 tỷ USD. Cái gọi là giới hạn hay trần an toàn giờ là thứ không còn ai nhắc tới. Trong vòng 5 năm tới, khả năng rất cao Việt Nam sẽ rơi vào tình trạng vỡ nợ quốc gia, khi chính phủ không thể trả nổi các khoản nợ đáo hạn. Tình trạng của Venezuela sẽ là viễn cảnh của Việt Nam.

Tuy nhiên chế độ hiện nay có thể trì hoãn cái chết bằng cách dựa dẫm vào nguồn tiền từ Trung Quốc. Và chẳng có bữa trưa nào miễn phí trên đời, đi kèm với đó sẽ là những cuộc mặc cả đen tối mà chủ quyền đất nước bị bán rẻ. Tất nhiên, khi sự thật lộ ra thì đất nước này sẽ chìm vào một biển máu mà sự phẫn nộ của người dân sẽ tàn phá tất cả. Và trong tình huống nội loạn diễn ra, đất nước này sẽ bị kéo lùi lịch sử trên dưới 20 năm.

Tôi muốn tránh cái viễn cảnh bi đát ấy và bất cứ người Việt Nam nào cũng đều muốn tránh, tôi tin, bao gồm cả những người cộng sản. Đơn giản là bất cứ ai cũng sợ chết, đặc biệt là những người giàu, trong khi đó các hậu duệ cộng sản và gia đình họ thì đã quá giàu. Vì thế tôi kỳ vọng rằng những cuộc đối thoại sẽ đến để tránh một kết cục bi đát cho tất cả. Chế độ rồi sẽ đi đến điểm kết, nhưng đó có thể là một điểm kết đau đớn hoặc một sự chuyển biến sang văn minh trong hoà bình.

Người Myanmar đã làm được điều đó, khi chính phủ độc tài của tổng thống Theinsein đứng về phe dân tộc. Họ cũng đã từng đi theo con đường chủ nghĩa xã hội trong trên dưới 25 năm (1963 đến những năm 1980), họ cũng là những kẻ độc tài bị thế giới cô lập và lệ thuộc nặng nề vào trung quốc. Họ cũng có hơn 1000 km đường biên giới với Trung Quốc và có những phe nhóm lý khai gốc Hoa đang cầm súng chống lại chính quyền. Nhưng với con đường hoà giải và hợp tác, hiện nay họ đã đi trên đúng lộ trình để văn minh hoá đất nước. Con đường của Myanmar không dễ đi, nhưng họ đã tìm được lối thoát khỏi màn đêm đen tối.

Tôi muốn nói rằng, đó là một tấm gương cho chế độ cộng sản Việt Nam. Họ có thể thay đổi để tiếp tục tồn tại như một lực lượng chính trị giữ vai trò quan trọng trong một tương lai không hề ngắn. Họ có thể cải cách để giữ lại quyền tồn tại của mình, và điều quan trọng nhất là điều đó sẽ mở ra cánh cửa để Việt nam đi theo đúng lộ trình văn minh hoá quốc gia.

Tất nhiên những cải cách không phải có thể đến ngay một sơms một chiều. Ngay từ lúc ngày, chế độ Việt Nam có thể tiến hành những bước đi đầu tiên:

1. Nới lỏng kiểm duyệt báo chí và mạng xã hội. Đó là cách tốt nhất để góp phần giảm tham nhũng và minh bạch quốc gia. Nó cũng là bước đi đầu tiên để cải thiện hình ảnh của chế độ trước mắt công chúng. Nới lỏng kiểm duyệt không đồng nghĩa với việc những lời chỉ trích chính phủ sẽ tăng lên, trái lại, xã hội sẽ ghi nhận và bước đầu ủng hộ khi chế độ đi trên đường đúng.

2. Sa thải và tái bố trí việc làm cho ít nhất 30% người hưởng lương ngân sách, chỉ có bằng cách đó mới đảm bảo được việc cân đối giữa nguồn thu, nguồn trả nợ và các khoản đầu tư công cần thiết phục vụ phát triển đất nước. Tăng thu nhập cho toàn bộ đội ngũ công chức còn phục vụ, đảm bảo mức thu nhập của khu vực công về mặt chính thức là ngang bằng hoặc tương ứng với 80% thu nhập của khu vực tư. Đây là cách duy nhất để giúp chặn làn sóng ăn cắp và tham nhũng bắt buộc của những công chức có thang bậc đãi ngộ thấp hiện nay.

3. Ban hành một đạo luật chống tham nhũng mới, theo đó ấn định một sắc lệnh ân xá cho tất cả các hành vi tham nhũng phát sinh trong quá khứ, đồng thời đề ra những mức án cực nặng cho các vụ việc tham nhũng mới phát sinh sau thời hạn ân xá.

4. Thành lập một cơ quan tư pháp mới, một cơ quan điều tra mới hoàn toàn tách biệt với tất cả những cơ quan tư pháp và điều tra hiện nay. Chọn lựa những người có đạo đức và lý tưởng phụng sự quốc gia vào những cơ quan này và cấp cho họ chế độ đãi ngộ đặc biệt. Những cơ quan này được trao quyền điều tra, truy tố và xét xử tất cả các vụ việc tham nhũng mới phát sinh sau thời hạn ân xá được ấn định trong luật chống tham nhũng mới.

5. Bước đầu tách biệt toàn bộ hoạt động của các cơ quan tư pháp khỏi bộ máy hành pháp.

6. Giải tán Mặt trận tổ quốc hiện tại, thành lập một mặt trận toàn dân mới theo đó các đại diện được lựa chọn thông qua bầu cử một cách công khai, minh bạch. Các đại biểu này sẽ cùng thành lập một hội đồng soạn thảo hiến pháp mới. Cần đề ra một lộ trình thay đổi hiến pháp, ấn định thời điểm chấp nhận việc thành lập tự do chính đảng (có thể là một lộ trình 5 năm). Nội dung cơ bản nhất của hiến pháp mới cần có những nhân tố căn bản của một xã hội văn minh, trong đó yếu tố nền tảng phải được xây dựng xoay quanh quyền lập chính đảng và bầu cử tự do. Để tránh các xung đột với chế độ hiện tại, có thể học theo đúng mô hình Myanmar đang thực hiện: Chế độ cũ nắm quyền chỉ định 25% số ghế nghị viện không cần bầu cử, và nắm quyền phủ quyết hiến pháp. Đây là một sự cải cách nửa vời, nhưng nó là cách tốt nhất để bắc một cái cầu giữa hiện tại với tương lai, cho đến khi đất nước đủ văn minh để có một bản hiến pháp thực sự tiến bộ.

7. Trên tất cả, cần thực sự cầu thị, cần thực sự thiện chí vì đó là cách duy nhất giúp đất nước tránh khỏi vực thẳm hoang tàn của bạo loạn và chiến tranh.

Sẽ chỉ có hai con đường với chế độ cộng sản hiện nay: Hoặc tiếp tục cố níu kéo quyền lực, vay nợ mọi thứ, bán rẻ mọi thứ cho đến ngày tàn dìm đất nước và chính chế độ này vào lò lửa chiến tranh, hoặc bắt đầu thay đổi, để tạo cơ sở cho đất nước này hướng tới tương lai trong đó bao gồm tương lai của chính đảng cộng sản.

Vài lời cuối cùng: Đây là những ý tưởng viết vội của tôi trong vài ngày nghỉ, nó được gõ và post trực tiếp ngay trên trình duyệt. Tôi biết nó sẽ vẫn có những khiếm khuyết và những hạn chế. Tôi mong rằng nó sẽ được hoàn thiện hơn qua sự chia sẻ và góp ý của tất cả mọi người. Chúng ta cần sự chia sẻ, chúng ra cần sự thiện chí và chúng ta cần sự khách quan. Bởi đó là những thứ đất nước này đang rất thiếu.

Tôi muốn minh định rõ ràng rằng những phân tích của tôi về thực trạng xã hội là những gì đang diễn ra và rồi sẽ diễn ra. Tôi trông đợi vào sự thay đổi của chế độ nhưng sẽ không đặt cược vào đó. Mọi sự thay đổi tích cực ở đất nước này phụ thuộc vào chính mỗi người dân Việt Nam. Chỉ khi mỗi chúng ta biết rõ ràng đâu là con đường phải đi và sẵn sàng phấn đấu vì nó một cách văn minh, hoà bình nhưng kiên quyết thì đất nước mới có hy vọng. Cũng chỉ khi đó cái thể chế tham nhũng hóa này mới chịu áp lực buộc phải thay đổi, không phải vì đất nước, mà vì chính họ. Có hàng nghìn và hàng chục nghìn người đã góp phần mình trong chuỗi sự kiện Formosa. Có hàng triệu người đã tham gia phong trào “Một lá phiếu, một cái tên”. Con đường này không dễ đi, nhưng tôi tin đất nước này còn có hy vọng.

Câu hỏi chúng ta cần phải làm gì không dễ trả lời, vì mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau. Tuy nhiên, các bạn có thể tham khảo lại một bài viết cũ: “Vì sự tiến bộ xã hội” https://web.facebook.com/Langlanhtu/posts/10204824521012889?_rdr

Tôi dự kiến sẽ viết một loạt phân tích về các phong trào đầu tranh cho tiến bộ xã hội ở Việt Nam kể từ năm 1975 trở lại đây, cả trong nước lẫn hải ngoại, và trình bày những kiến giải của mình về những giải pháp mà những công dân tiến bộ có thể làm để thúc đẩy lộ trình văn minh ở Việt Nam. Tuy nhiên, có lẽ dự án này sẽ được gác lại cho đến khi tôi hệ thống được tư duy về vấn đề này và tìm thấy thời gian rảnh.

Trân trọng.

 

PHIẾM MAI KHÔI : ĐIẾM CHẢY

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Cách đây hai hôm (12/01/2017) tui có stt trên FB như sau: “Những việc làm trước giờ của Mai Khôi chỉ màu mè kiếm fan như hàng trăm ca sĩ khác thôi mà. Trước giờ tui coi cổ như pha nên tui hổng ý kiến. Ai biểu ủng hộ cổ để rồi thất vọng ?
Nói vậy chớ, cắc cớ, ai hỏi tui cảm nghĩ gì về cổ thì tui xin thưa đúng hai từ: ĐIẾM CHẢY !”
Rất nhiều người chưa hiểu ý của tui cho nên đi lạc qua chuyện “lá cờ”. Trong số họ thì có con nhỏ cháu mà tui rất thương (trong bụng) viết rằng “… Nếu là con, con cũng làm như cổ.” (tức Mai Khôi)
Để trả lời thiệt ngắn thì không hết ý. Viết dài thì tui có nguy cơ bị tống cổ khỏi hãng. Cho nên câu trả lời dành cho hôm nay (thứ bảy 14/01) vậy.
Xin thưa, trong stt tui KHÔNG CHỦ ĐÍCH đánh giá MK về chuyện “lá cờ” mà tui BẤM HUYỆT cô ta từ trước đến nay. Xin phép để tui miên man tí hén.
Số là hồi năm ngoái tui có suy nghĩ như sau: Ai ai cũng thừa biết bầu cử QH ở xứ vẹm là một trò hề nhưng để bêu rõ thêm cái sự hề đó thì không có cách gì hay hơn là ủng hộ các ứng viên độc lập.
Rồi cái kết quả mà ai cũng thấy là đảng cộng phỉ (thêm một lần nữa) tự nhét phân vào mồm khi đồng loạt những ứng viên QH đều bị loại ngay ở mốc đầu tiên (ngoại trừ trường hợp của ông Trần Đăng Tuấn dù “qua ải” địa phương nhưng cũng bị loại… theo đúng qui trình). Nhân tiện xin nhắc lại một trường hợp cười thòi cả bác đó là trường hợp ông Đỗ Việt Khoa bị loại với lý do rất vẹm : “Để chó iả bên nhà hàng xóm”!
Lúc ấy, bên cạnh một số khuôn mặt các ông bà quen thuộc như Đặng Bích Phượng, Nguyễn Quang A, Trần Đăng Tuấn, Đỗ Việt Khoa hoặc Nguyễn Xuân Diện thì có một khuôn mặt (với tui là) mới tên Đỗ Nguyễn Mai Khôi (MK). Sau khi tìm hiểu xem MK là ai thì tui càng khoái khi biết cổ cũng (tạm gọi) là đồng hương của mình. Cổ là người Cam Ranh, gần xịt Nha Trang hà. Cái “sướng” của tui chợt vụt tắt khi tui nhận ra MK chỉ muốn đánh bóng mình qua các chiêu trò “thả rông vòng một”. Ca sĩ mà! Họ có quyền tạo scandale để média không được phép quên họ.
Có hai dạng ca sĩ cố gắng tạo Xì : một là quá nổi tiếng nhưng giọng hát đang “bên kia núi đâu có gì xanh hơn…”. Hai là quá trẻ, quá tệ mà muốn dùng “tiếng hót ót tiếng bom”. Tui nghe MK “hót” trên mạng thì thất vọng với cái thể loại nhạc chập cheng và giọng hát làm tui nhớ lại bốn năm về trước lúc còn ở khu nhà cũ, có con mèo cái của bà già hàng xóm lúc mùa động đực. Tui từng đề nghị bả triệt sản cho nó mà bả hét lên rồi gườm tui không khác gì lời khuyên dành cho chính bả vậy. Bẵng sau hai năm thì không còn nghe tiếng gào động đực vào hè đó tra tấn nữa. Có lẽ nó chết hoặc nó đi theo trai.
Giọng của MK không tệ như con mèo nhưng cũng không ngọt ngào hơn bà già hàng xóm cũ của tui. Tóm lại là không “gu” của tui. Do đó mà chuyện MK nổ lực kiếm fan thì rất dễ hiểu.
Rồi MK quăng cờ líp muốn gặp Obama (đang ngao du Việt Nam). Trò đó còn được “tăng cường” trên BBC nữa kià. Cuối cùng MK cũng được “đảng và nhà nước ta” cho phép gặp Obama để nói chuyện… kín mà sau đó đại sứ Huê Kỳ phán “VN tôn trọng nhân quyền và tự do tôn giáo”. Tui có quyền nghi ngờ cổ chớ sao. Cái bức hình được ngồi chung với Obama, tui dám cam đoan rằng, sẽ là món gia bảo của cổ truyền cho con cháu không khác gì bức Nguyễn Tất Thành tại đại hội Tours (Pháp) hồi 1920 mà con cháu vẹm cứ sướng rên người.
Thế là thiên hạ cứ tưởng lầm cổ đấu tranh dữ lắm. Tui bắt mạch MK là cổ chẳng có đấu (ngu sao) mà tranh thì hẳn hòi rồi. Tranh gì ? Và tranh với ai ? Xin thưa : tranh tiếng, tranh công và cả tranh thủ fan ! Do đó mà tui coi cổ như pha. Sự việc MK được visa để lông bông một thời gian bên Mỹ từ Washington cho đến Virgina càng làm tui thêm nghi ngờ rằng cổ “có thoả thuận” để giúp cộng phỉ thực hiện NQ36, hoặc nếu không làm điều đó được thì chí ít cũng làm phân hoá cộng đồng người Việt (như bác Triết của cổ muốn “làm phân hoá chính quyền Mỹ” vậy).
MK chỉ muốn tạo dựng bản thân bằng những hình ảnh “được trọng vọng” khắp nơi, được gặp gỡ với những người nổi tiếng (nhưng nông nổi như bà Nguyễn Thị Thanh Bình ở Virgina). Và kết quả được toại nguyện là cả hai (bà) đều nổi lềnh bềnh như rác rưỡi mùa lũ cuốn vậy.
Cổ đi chàng hảng, một bên dựa vào “mức cho phép” của cộng phỉ, một bên dựa vào “sự vồ vập ngây thơ” của một số người Việt ở hải ngoại để khoác hào quang cho bản thân. Sự kiện liên quan đến “lá cờ” chỉ là “cái giới hạn” mà đảng đã cho phép MK mà thôi ! Bởi vậy sẽ không lạ để cổ (phải) thanh minh thanh nga với cộng phỉ rằng “em chả mà chúng…”.
Từ hồi còn con nít tui đã nghe quanh tui chửi câu điếm rạc, điếm đàng, điếm thúi, điếm chảy. Tui không hoàn toàn hiểu nghiã của những tiếng chửi đó nhưng với cái đầu hay tưởng tượng (để vẽ tranh) thì tui cảm thấy chữ điếm chảy là ghê gớm nhứt. “Chảy” làm tui liên tưởng đến chất lỏng, nó luồn lách và thẩm thấu khắp nơi. Hoặc ghê hơn là như cái bịnh iả chảy khiến thân thể bạc nhược ra.
Do đó mà tui (nhái): “Nhìn tổng thể, MK có bao giờ được nổi tiếng như thế này chưa ?”. Xin thưa rằng có nổi tiếng, mà tui nôm na, là ĐIẾM CHẢY.

Viết thêm: Tui rất ghét những người đụng tí là gán ghép cái câu “Xướng ca vô loài” mỗi khi không thích ca/nhạc sĩ nào đó. Nó xúc phạm ghê gớm không khác gì đụng ai khác ý kiến là sẳn sàng đơm ngay cái mũ cối. Tui đã từng lên tiếng nhiều lần về chuyện xúc phạm này rồi, nay nhắc lại để những người nào là “bạn” của tui thì tránh không nên cmt ở “nhà tui” nhen. Nó làm tui mắc cười khi tưởng tượng con bò cứ bắt cái quai hàm lao động, hoặc như lũ DLV nhai mãi “Bạn đã làm gì cho TQ…” mà bản thân nó cũng chẳng biết xuất xứ câu nói đó đến từ đâu.
Về chuyện “lá cờ” thì tui sẽ viết trong stt khác bởi đó là chuyện rất nghiêm túc.

Strasbourg, 14/01/2017
– Vũ Tuân – KVC

LÙM XÙM TIỀN TRÊN MẠNG

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

TIỀN

Chỉ giấy vẽ vời nét láo liên
Xanh vàng tím đỏ, số định riêng
Đạo đức tạo bằng thân mai mảnh
Công danh đong bởi mớ vuông điền
Rỗng bụng trăm thằng khôn hoá dại
Đầy mồm một lũ quỷ thành tiên.
Tiên sư đời đẻ chi thằng bạc
Thiên hạ ghè nhau đến phát phiền.

-Bút Che Kỳ Cục-

Bạn hữu “Thằng Khiêng Kiệu” họa lại:

SAO KÊ
Thói đời soi mói bởi tờ liên…
Huynh đệ om sòm lắm nỗi riêng
Thủ lỉnh dân oan sầu bãi bể
Văn nhân bá tánh nộ tang điền
Trắng đen khéo vẽ chồn lên thánh
Xanh đỏ nhờ tô cáo hóa tiên
Bút chiến tương tàn trên giấy bạc
Khiến cho ông Định cũng ưu phiền

  • Anh dùng từ : láo liên, chi mà ác vậy, nó gieo trúng cái tử vận rùi…rất cảm mến và phục tài thi họa của anh. Ô.Lê Công Định em đem vào cho nó thời sự một tí đó anh, chúc anh chị luôn khỏe và hạnh phúc nha, kính !

KẺ VÔ ƠN

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Tác giả: Vũ Thư Hiên

1

Nghe tôi nói đến “Hiếu nhà băng”, thiếu tướng Thạc lộ vẻ ngạc nhiên:
– “Hiếu nhà băng” ở Zurich? Ông quen hắn?
Tôi gật:
– Quen. Chưa lâu lắm. Ông biết ông ấy?
– Biết. Từ hồi kháng chiến chống Pháp kìa. Lúc ấy hắn có biệt danh khác – “Hiếu tồ”.
– Trái đất tròn thật – tôi nói – Tôi gặp ông Hiếu trong chuyến du lịch Ai Cập. Lâu rồi, dễ đến ba hoặc bốn năm. Quen loáng thoáng, mãi đến năm ngoái gặp lại nhau ở Genève mới có dịp tâm sự.
– Ông thấy hắn ta thế nào?
– Tính tình cởi mở, quả có hơi tồ một chút.
– Nghe nói bây giờ hắn giàu. Giàu lắm.

Ông thiếu tướng liếm đôi môi khô. Trong giọng ông có một chút khó chịu, hoặc một chút ghen tị, hoặc cả hai.
– Trông ông ấy bề ngoài thì cũng bình bình, vầy vậy, không có dáng người giàu – tôi thấy cần phải nói nhận xét của mình – Ăn vận xuềnh xoàng, xe không sang – một cái BMW đời cũ. Đại khái như mọi người bình thường. Nghe đâu trước khi về hưu ông ấy có làm việc ở một ngân hàng. Phó giám đốc hay là chuyên viên gì đấy.
– Giám đốc đấy, ông ạ. Làm đến chức ấy thằng chó nào mà không giàu chứ?
Ông Thạc ngậm ngùi:
– Cái số con người ta thật lạ, lên voi xuống chó khôn lường. Tôi biết rõ Hiếu Tồ. Trước kia hắn ở đơn vị tôi.
Đến lượt tôi ngạc nhiên:
– Tức là ông ấy từng ở bộ đội?
– Cấp dưới của tôi. Hồi ông đến công tác chỗ tôi thì hắn không còn đấy nữa. Đào ngũ.
– Năm nào?
– Đầu 54.
– Ông Hiếu không nói với tôi về giai đoạn ấy.

Tôi với thiếu tướng Thạc quen nhau từ hồi ông làm trưởng phòng chính trị Bộ tư lệnh quân khu 3, tôi thì từ Việt Bắc về đấy lấy tài liệu tổng kết. Sau đó là tiếp quản thủ đô, rồi mấy đợt rèn cán chỉnh quân, chúng tôi gặp nhau thường. Người khác ở tuổi ông, có thâm niên quân đội như ông, thì đã lên trung tướng từ lâu.

Chuyện dân “tạch tạch xè” đi kháng chiến bị phân biệt đối xử trong việc thăng cấp là chuyện chẳng ai ngạc nhiên. Quen nhau lâu thế nhưng tình bạn giữa chúng tôi không thể gọi là thân, có lẽ tại tính tình không hợp, nhưng biết nhau hơn nửa thế kỷ mà vẫn giữ được quan hệ quen biết thì cũng coi như không đến nỗi xa cách.

Thiếu tướng Thạc sang Đức ở với con gái. Không hiểu qua ai mà biết địa chỉ của tôi, ông biên thư hỏi thăm. Có việc qua vùng ông ở, tôi rẽ vào. Ông mừng lắm, ôm chặt, vỗ lưng tôi đồm độp, mắt nhòa đi. Ông đang trong cơn cô đơn, tôi đoán. Tâm trạng này có ở bất cứ người lớn tuổi nào trong cuộc sống xa quê. Hỏi thì ông bảo ông sống tạm ổn, không có gì đáng phàn nàn.
Anh con rể người Đức là chuyên viên hãng Siemens, một hãng lớn. Cô vợ có cửa hàng hoa tươi, nhiều khách quen, xem ra có bề phát đạt. Ngoài ngôi nhà ở khang trang ở trung tâm Stuttgart, hai vợ chồng còn tậu được một nhà vườn. Ở nước Đức có cuộc sống như thế là loại trung bình khá.

Khi mới sang, ông bố vợ ở chung với các con. Ít lâu sau ông dọn ra nhà vườn. Ông bảo ở đây cũng đủ tiện nghi, lại được ở một mình, dễ chịu hơn. Chưa kể sáng sáng còn có việc làm – với cái cuốc, cái kéo tỉa cây, ông chăm sóc mấy giàn hoa leo, mấy luống rau thơm. Thỉnh thoảng, cuối tuần, hai vợ chồng dẫn mấy đứa cháu ngoại ra thăm ông.
Ông không biết một tiếng Đức nào, với ai ông cũng chỉ mỉm cười thay lời chào. Anh con rể gật đầu chào lại, nhưng không cười. Hai đứa cháu trai nghịch như quỷ sứ, vừa ra đến nhà vườn là chúi vào các trò chơi chúng mang theo.

– Cái giống Đức tính lạnh, ông ạ, không như người mình – ông nhận xét – Giao thiệp với dân Đức không dễ, chẳng biết trong bụng chúng nó nghĩ gì. Thằng rể tôi đươc cái lễ độ, bề ngoài thấy nó cũng có vẻ kính trọng bố vợ.
Ông tiếp tôi ở nhà vườn, xăng xái đi nấu cơm thết bạn.

Tôi thấy ông đi đứng còn nhanh nhẹn, lưng không gù, giọng sang sảng, duy có nước da mai mái, dấu ấn của bệnh sốt rét kinh niên, làm ông hơi xấu mã. Hàm dưới đưa ra, má hóp lại. Ở tuổi bảy mươi tám còn được thế là tốt rồi. Trong phong thái, ông vẫn giữ được chút gì đó của một thời chinh chiến, khi ông còn là một cấp quen ra lệnh. Bây giờ không ra lệnh được cho ai thì ông ra lệnh con béc-giê giống Đức lúc nào cũng quanh quẩn bên chủ. Nó to như con bê, nhưng hiền khô. Dưới sự chỉ huy của ông nó biết ăn cơm nguội rưới tí nước thịt, y như một con vàng hoặc con vện Việt Nam.

Tôi muốn hỏi ông sang Đức sống lẻ loi làm gì cho khổ, trong khi ở Việt Nam, dù bà mất rồi, nhưng còn có bạn bè, có họ hàng. Tuổi già sống cô độc ở xứ người nào có vui gì. Lương hưu cấp tướng giờ rất khá, hơn trước nhiều lắm, thừa đủ cho một cuộc sống của người già không còn nhiều đòi hỏi. Ông bảo nhà nước bây giờ chiều cán bộ hưu, nhất là đám có thâm niên cao, không muốn họ gây chuyện nay kiến nghị mai phản đối hoặc tệ hơn, a dua với bọn hới mưng đòi dân chủ.

– Sang đây ông có gặp lại ông Hiếu không?
– Có. Mà không.
– Là thế nào?
– Tôi có trông thấy hắn ta, nhưng không gọi.
– Sao vậy? – tôi trợn mắt – Ông giận ông ấy? Giận cái chuyện đào ngũ ấy à? Chuyện từ đời tám hoánh mà đến giờ còn để bụng thì ông quẫn rồi đấy. Bọn mình gần đất xa trời cả rồi, mọi chuyện xửa xưa ông nghe tôi, cứ quăng tuốt đi, cho nhẹ mình. Ông âm lịch quá.

Ông Thạc nhún vai, môi dưới trề ra. Im lặng một lúc, ông thủng thẳng:
– Không phải tôi giận hắn cái chuyện ấy, chuyện ấy tôi không tính, bộ đội hồi ấy đào ngũ chẳng phải mình hắn … Hồi Cải cách ruộng đất bọn con cái địa chủ, phú nông, không trước thì sau, theo nhau chuồn bằng sạch. Không như chúng ta, đã đi với cách mạng là ta đi đến cùng. Chúng nó không thể kiên trì lập trường cách mạng là do bản chất giai cấp của chúng khác ta …

Tôi che miệng ngáp. Giời ạ, lại cái bài ca lập trường giai cấp cũ rích tưởng chừng không còn có thể nghe thấy ở bất cứ đâu, đùng một cái lại gặp nó giữa lòng nước Đức.

Từ lâu rồi, nhiều người thuộc thế hệ tôi đã hiểu ra, rằng cuộc cách mạng đầy chất lãng mạn, lẽ sống một thời trai trẻ của họ đã mất, thay vào đó là một xã hội mới, của riêng những kẻ đi sau về trước, xưng cách mạng chỉ để kiếm chác, còn lớp cựu trào chỉ là vỏ chanh đã vắt kiệt. Nhưng hiểu thì hiểu, cái lập trường cách mạng như của ông thiếu tướng không rời bỏ họ. Đó là cái còn sót lại của quá khứ mà họ phải bám lấy để mà sống. Với những kỷ niệm đã bạc màu, những giáo điều đã chết, và những hào quang không còn lấp lánh.

– Vậy thì vì cớ gì ông giận?
– Hắn là thằng vô ơn, ông ạ – ông thở dài. Tôi giận là giận cái sự vô ơn ấy thôi. Hắn chịu ơn tôi, nhưng khi gặp tôi, hắn lờ. Tôi chỉ cần được nhìn thấy hắn mừng rỡ khi gặp lại tôi thôi, thế là đủ, là được rồi. Nhưng không, nhìn thấy tôi, hắn lảng.

2

– Tôi nhớ ông ấy chứ – ông Hiếu cười buồn nghe tôi kể chuyện gặp thiếu tướng Thạc – Trí nhớ tôi không đến nỗi tồi. Tôi có nhìn thấy ông ấy. Và tôi đã không gọi, đúng thế. Chuyện ông ấy kể cho ông nghe không sai, ông ấy có làm ơn cho tôi thật. Nhưng là một thứ ơn mà người mang ơn không muốn nhớ đến …

Chúng tôi ở trong một biệt thự nhỏ, xinh xắn, bên hồ Bodensee, còn có tên là hồ Konstanz. Con hồ này giáp giới ba nước Đức, Áo, Thụy Sĩ. Hồ rộng mênh mông, đứng thứ hai tính về diện tích so với các hồ thuộc vùng núi Alpes. Giá đất ở những nơi có địa thế đẹp ở ven hồ đắt khủng khiếp. Ở những địa điểm có thể xây khách sạn, nhà nghỉ phải nhiều tiền lắm lắm mới có được một biệt thự riêng.

Tôi ngạc nhiên khi vào bên trong ngôi biệt thự ấy – đắt tiền là thế mà chẳng có vật gì sang trọng. Giữa phòng khách chình ình một cái chõng tre ta thường gặp trong một quán nước ở đồng bằng sông Hồng những năm xưa, trên đó lỏng chỏng một cái ấm giỏ và mấy cái bát sành. Ghế ngồi là những thân gỗ mộc xù xì, nhưng có đệm, hẳn để dành cho khách không quen ngồi ghế gỗ. Tôi đã gặp cách bài trí theo lối cổ ở nhiều nhà người Việt ly hương, với những hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng, những sập gụ, tủ chè, tràng kỷ, cái nào cái nấy thuần bằng gỗ quý đặt làm từ trong nước chở sang. Cũng là nỗi nhớ quê hương, nhưng khác với nỗi nhớ của ông Hiếu, nó là nỗi nhớ trưởng giả hoặc bén hơi trưởng giả.
– Tại sao?

Ông Hiếu bắt đầu câu chuyện vào một đêm cả hai đều khó ngủ.
Chúng tôi ngồi bên nhau, an nhàn tựa lưng trên ghế dài đặt sát mép nước hồ. Ban đêm mặt hồ phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ màu đen. Mặt nước nhấp nháy những đốm lửa nhỏ, ở chân trời, rất xa, nơi có quần thể đông đúc khách sạn và nhà hàng.

– Ông Thạc chưa kể cho ông nghe?
– Chưa. Ông kể đi.
Ông Hiếu im lặng một lúc lâu. Hình như ông do dự, ông không muốn kể, có thể là ông không muốn gợi lại một quá khứ muốn quên. Ông chỉ kể khi tôi phải thúc giục vài lần. Sau đây là câu chuyện tôi được nghe trong đêm ấy.

“Ông Thạc lúc bấy giờ là bí thư chi bộ, tôi là quần chúng. Chúng tôi đều là học sinh xuất thân. Lý lịch của chúng tôi đơn giản, chúng tôi vào bộ đội như là lẽ đương nhiên – thanh niên thời chiến thì phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc.

Tôi với ông Thạc vừa là bạn, vừa có quan hệ cấp trên cấp dưới. Cái sự tôi ở trong diện cảm tình đảng, đang thời kỳ thẩm tra lý lịch để kết nạp cũng là do ông Thạc quan tâm nâng đỡ. Chứ tôi, nói thật với ông, chẳng thuộc diện được đảng chú ý. Về phần tôi, tôi cũng chẳng mặn mà gì cái sự vào đảng.

– Vào thời ấy mà không biết quý cái sự vào đảng thì, nói thế nào cho đúng nhỉ – tôi nói – hoặc ông rất cấp tiến, hoặc ông hâm.
– Tôi không cấp tiến, cũng chẳng hâm, ông ạ. Tôi lười – ông Hiếu cười khe khẽ – Người ta phấn đấu để được vào đảng, để được đề bạt, tôi thì không. Còn chiến tranh thì mình làm lính, hết chiến tranh thì thôi, chẳng lẽ ở bộ đội đến hết đời à? Trong đảng người ta nghĩ gì về tôi, tôi không biết, tôi không quan tâm. Mà họ nghĩ gì mới được chứ? Tôi ở đơn vị chiến đấu suốt từ ngày đầu kháng chiến cho tới khi quân khu lấy về phòng chính trị, dưới quyền ông Thạc. Tôi không thích làm lính ống quyển , nhưng quân lệnh như sơn, phải chấp hành.
– Ông có phạm kỷ luật gì trong thời gian ấy không?
– Không.
– Ông Thạc nói ông mang ơn ông ấy là ơn thế nào? – tôi rụt rè hỏi.
Ông Hiếu im lặng.
– Tôi đoán … ông phạm kỷ luật gì đó và ông ấy đã gỡ tội cho ông?
– Cái ơn còn lớn hơn. Tôi sẽ kể ông nghe.
Ông không kể ngay. Ông nhìn ra hồ. Khi có gió, mặt nước cũng lăn tăn một chút làm xao động những đốm lửa xa.
Tôi im lặng chờ.

3

“Một hôm, ông Thạc gọi tôi ra chỗ vắng. Ông thì thào:
– Lâu nay cậu có tin tức gia đình không?
– Không. Cũng đến cả năm rồi, không có liên lạc. Chắc cũng chẳng có chuyện gì đâu, vùng tôi ít bị máy bay bắn phá – tôi nói – Ông cụ mình cũng bận. Làm chủ tịch xã, lại còn kiêm nhiều chức trên huyện nữa. Mình tính sau đợt chỉnh quân sẽ xin đi phép thăm các cụ.
Ông Thạc có vẻ lúng túng. Có vẻ ông ấy phải chọn lời. Mãi sau mới nói:
– Tớ nói chuyện này, nhưng cậu phải tuyệt đối bí mật.
– Cậu biết tính mình, mình không phải đứa bép xép.
Ông chớp chớp mắt rồi ghé sát vào tai tôi, giọng trầm trọng:
– Ông cụ bà cụ cậu bị lên địa chủ phản động rồi …
Tôi chết điếng. Tôi không tin ở tai mình.

Lúc bấy giờ ở vùng chúng tôi đóng quân đã qua bước giảm tô giảm tức, đang đi vào cải cách ruộng đất, nhưng đơn vị chúng tôi chỉ học tập chủ trương chính sách để ủng hộ chứ không trực tiếp tham gia. Trong học tập tôi được biết cải cách ruộng đất do đảng lãnh đạo là một cuộc cách mạng long trời lở đất, là sự đổi đời ở nông thôn, giai cấp nông dân vùng lên đánh đổ bọn cường hào gian ác. Thế nhưng, tôi cũng như mọi người, cứ nghĩ rằng ở đây, hoặc ở đẩu ở đâu kia, mới có những tên địa chủ tàn bạo, ác độc, chứ những quân quỷ sứ ấy không thể có ở quê mình, đừng nói gì trong nhà mình.
– Nghe đâu lại còn Việt Quốc hay Việt Cách gì đó nữa …

Tôi không còn nghe thấy gì nữa.
– Chắc cậu cũng chẳng biết hết những việc làm của ông cụ đâu … – tiếng ông Thạc văng vẳng bên tai tôi – nhưng chẳng có gì giấu được quần chúng được phát động …
– Làm sao có thể có chuyện như thế được – tôi đứng phắt dậy – Ông cụ bà cụ mình hiền như đất ấy mà.
– Địa phương gửi công văn hỏi về cậu đấy.
– Hỏi về mình?
– Phải. Tớ đã viết trả lời sau khi hội ý toàn chi bộ, bảo đảm cậu là cán bộ tốt.
– Chuyến ấy xảy ra khi nào?
Ông Thạc thở dài:
– Ba tuần rồi.

Tôi nhớ lại: có một cái gì đó không bình thường trong ánh mắt của các đảng viên khi gặp tôi. Dường như họ tránh nhìn tôi. Trong sinh hoạt cơ quan, mọi chuyện chỉ có đảng viên được biết, quần chúng chỉ có thể đoán rằng đang có chuyện gì đó, xấu hoặc tốt, căn cứ thái độ của họ.
– Sao cậu không cho mình biết?
– Nói sao được?! Nguyên tắc mà.
– Bây giờ cậu bảo mình phải làm gì?
Ông Thạc ra chiều suy nghĩ.
– Bây giờ cậu về nhà – lát sau, ông bảo – Đừng nói với ai cậu đi đâu, chuyện đó mặc tớ lo. Đây, tớ đã chuẩn bị sẵn cho cậu:công lệnh, bản sao công văn đơn vị gửi chi bộ địa phương.Cứ cầm theo, phòng xa, có khi dùng đến. Về đến nhà rồi, gặp được ông cụ bà cụ rồi thì trở lại ngay đơn vị. Đấy là tất cả những gì tớ có thể làm cho cậu”.

Tôi nói:
– Ông Thạc đối với ông thật tốt.
– Tôi không nói ông ấy xấu – ông Hiếu đáp – Ông nghe nốt câu chuyện đã.

“Tôi lập tức lên đường. Đi suốt đêm. Suốt cả ngày hôm sau. Vừa đặt chân vào nhà, tôi lập tức bị bắt. Đám du kích ập đến, trói gô tôi lại. Chúng quát tháo, chúng chửi mắng, không cho tôi kịp mở miệng. Mà chúng nó là ai chứ? Toàn người quen kẻ thuộc cả, ông ạ, không hàng xóm láng giềng thì cũng người cùng thôn, cùng xã. Nghe chúng nói với nhau tôi mới biết mẹ tôi không chịu được hành hạ đã thắt cổ tự vẫn tuần trước, còn cha tôi sẽ bị bắn vào hôm sau. Tôi lặng đi. Tôi không khóc được. Nước mắt chưa chảy đã cạn. Mẹ tôi là một nửa cuộc sống của tôi. Ngay cả khi sống xa nhà tôi vẫn cảm thấy mẹ ở bên tôi. Cha tôi khác, tôi yêu cha, kính trọng cha, nhưng không gần gụi cha như gần gụi mẹ.

Tôi không tưởng tượng được cái tai họa giáng xuống gia đình tôi lại lớn đến như thế, lại kinh khủng đến như thế. Đau đớn nhất là cái sự tôi là bộ đội chẳng giúp được gì cho các cụ.Ngày nay ai cũng biết những khẩu hiệu “Người cày có ruộng,” “Đánh đổ bọn cường hào ác bá, nông dân giành lấy chính quyền,” “Nông dân là quân chủ lực của cách mạng” … chỉ là những lời lừa mị. Nhưng lúc ấy khác, lúc ấy chúng có một sức mạnh ghê gớm.

Nông dân ào ào đi theo đội cải cách, hô vang những khẩu hiệu sắt máu đến khản tiếng, đến rạc người. Có thể họ chân thành tin ở cuộc đổi đời mà đảng hứa hẹn, rồi đây họ sẽ trở thành những ông chủ bà chủ ở trong làng, họ sẽ có những gì mà những người sang trọng có. Điều tôi biết chắc là những con người khốn khổ kia rất hi vọng ở số quả thực sẽ được chia sau khi bọn nhà giàu trở thành kẻ có tội với cách mạng – một thúng thóc, cái mâm đồng, cái phản gỗ, có khi là cả cái tủ chè, cái sập gụ cũng nên …

Sáng hôm sau, tôi bị điệu ra trường đấu. Dân chúng cả mấy xã tề tựu ở sân trường học của xã. Tôi nghe tiếng loa thúc giục mọi người đi dự cuộc đấu “tên phản động đầu sỏ, tên cường hào gian ác, tên địa chủ có nợ máu với nhân dân” từ khi còn tối đất. Trường học này đầy ắp những kỷ niệm thời thơ ấu của tôi. Những người bạn học của tôi giờ đây sát khí đằng đằng lăm lăm súng trường mã tấu đứng ở vòng ngoài.

Tôi nhìn thấy cha tôi, bị trói giật cánh khuỷu, bị lôi đi xềnh xệch, bước chân lảo đảo, nhớt dãi chảy xuống ngực, giữa đám đông xỉa xói, gào thét, với những bộ mặt biến dạng, những đôi mắt đỏ ngầu, những cái miệng há to, giữa rừng cánh tay vung lên hạ xuống theo sau những khẩu hiệu đòi trả nợ máu …

– Kinh khủng! Hồi ấy tôi đang học ở Liên Xô nên không được chứng kiến những gì xảy ra, chỉ được nghe kể lại …
– May cho ông, ông gốc thành phố, chứ dân nông thôn chúng tôi hồi ấy chỉ cần hơi có máu mặt một tí là chết. Chẳng riêng gia đình tôi, người cùng cảnh ngộ nhiều vô số kể … Tôi nói hơi có máu mặt, tức là những người có của ăn của để, hoặc có dư chút ít ruộng đất. Ở nông thôn miền Bắc nước ta, ông biết đấy, đâu có nhiều địa chủ. Gọi là địa chủ, chứ chẳng qua chỉ là những nông dân khá giả, do chăm chỉ làm ăn hoặc khéo thu vén mà hơn người. Hơn cũng chẳng nhiều nhặn gì, bất quá vài ba mẫu là cùng, mà lại là mẫu ta.

Ông Hiếu thở dài.
– Có cần kể cho ông nghe chi tiết cuộc đấu không?

Ông Hiếu đặt câu hỏi, rồi im lặng hồi lâu, như thể nhớ lại cảnh tượng hãi hùng mà ông không phải chỉ là người chứng kiến.
– Cuộc đấu kéo dài từ sáng tới trưa, tiếp theo là cuộc xử án chớp nhoáng. Tất cả diễn ra trong những tiếng hô khẩu hiệu không ngớt. Rồi cha tôi bị điệu ra trước bức tường của trường học, nơi vẫn còn cái khẩu hiệu do chính tay tôi viết năm 1945: “Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Minh vạn tuế!” Cha tôi bị bắn ở đó. Trước khi bị bắn, cụ chằm chằm nhìn tôi, nước mắt đầm đìa. Có vẻ cha tôi muốn nói điều gì đó với tôi nhưng không thể nói được – trong miệng cụ là một búi giẻ bẩn thỉu, từ đó nhểu xuống đất những giọt dãi …
– Cụ “đi” có nhanh không?
– Không – ông lắc đầu – Lúc đấu thì hùng hổ lắm, nhưng đến lúc phải cầm súng bắn người thì hình như không ai muốn, hoặc người nào cũng không muốn mình là người bắn viên đạn chết người, thành thử những người được phân công hành quyết đều bắn trượt trong loạt đạn đầu. Đám “ông đội” “bà đội” phải hò hét, quát tháo liên hồi, giật lấy súng chỉ cách cho họ bắn họ mới bắn được. Có vài viên trúng, máu loang trên ngực cha tôi. Một “ông đội” mắt long sòng sọc chạy xổ đến bên cọc, rút súng lục, bắn thêm một phát vào thái dương cụ mới “đi”.

4

Chúng tôi ngồi bên nhau, im lặng.
– Về sau này, khi nhớ lại những phút hãi hùng đó tôi mới hiểu ra vì sao trước khi đưa những người gọi là địa chủ phản động ra đấu chính thức người ta phải bắt nông dân đấu lưng trước đã …
– Đấu lưng?
– Vâng, đấu lưng. Tức là người bị đấu phải quỳ, nhưng không quay mặt lại đám đông, còn những khổ chủ, những người được “đội” bồi dưỡng, gọi là “bắt rễ, xâu chuỗi” thì xỉa xói vào lưng người bị đấu mà kể nỗi khổ bị bóc lột… Ông hiểu rồi chứ, đó là vì nếu những người nông dân hiền lành nọ mà nhìn vào mặt người hôm qua còn là họ hàng, làng xóm, tối lửa tắt đèn có nhau thì họ không nỡ lòng nào bịa đặt ra những tội lỗi không có, không thốt nổi thành lời những điều vu oan giá họa bạc ác, bất nhân như đội dạy. Con người không phải dễ dàng trở thành quỷ. Phải dạy dỗ, phải huấn luyện, ông ạ. Và không phải bao giờ người ta cũng thành công. Có nhiều người thà chết chứ không chịu trở thành quỷ.

– Tôi tin có những người như thế.
– Đáng buồn là con người một khi đã thành quỷ rồi thì khó trở lại làm người lắm.

Ông Hiếu thở dài.
– Tôi có chú em họ, hồi cải cách ruộng đất còn nhỏ đã chạy lon ton theo đội học đấu tố, lớn lên vào đảng, rồi làm quan, ăn bẩn. Cho đến khi về hưu không bị sứt mẻ gì, gọi là hạ cánh an toàn. Giàu có lắm, nhưng bị người trong họ ngoài làng xa lánh. Cũng có người cực chẳng đã phải nhờ vả chú ấy việc này việc khác, nhưng trong thâm tâm họ đều khinh bỉ. Chú ấy lhi sang đây chơi phân trần với tôi: “Thời thế nó thế thì phải thế, ai cũng phải làm phải ăn, em cũng không thể khác, người ta không hiểu em, chứ em có lòng dạ nào làm hại bà con”. “Nhưng họ khinh chú là phải chứ?” tôi hỏi. “Thì họ có cách nào khác, yêu em à?”, chú ấy nói thế.

– Sau vụ ấy ông trốn vào thành?
Ông Hiếu tránh nhìn tôi.
– Vâng – ông nói khẽ – Tôi còn biết đi đâu?
– Tôi hiểu.
– Lúc ấy trong lòng tôi đầy mâu thuẫn. Tôi không muốn rời bỏ hàng ngũ kháng chiến. Nhưng tôi cũng không thể ở lại. Quên, chưa nói để ông biết, ông Thạc nhìn xa đã cấp cho tôi đủ giấy tờ cần thiết để tôi không bị lôi vào cuộc đấu tố cùng với gia đình. Đội cải cách đã cho phép tôi được trở lại đơn vị.
– Nhiều người ở trong hoàn cảnh ông đã không “dinh tê.”
– Vâng, có người rồi còn trở thành cán bộ cấp cao nữa, tôi biết. Họ phải trả giá đắt cho sự thăng tiến ấy, bằng sự dối trá thường xuyên, bằng sự hàng phục tuyệt đối. Tôi không có đủ dũng khí, và sự nhẫn nhục nữa, để làm được như họ. Khi đã ở trong thành rồi, có nhiều lúc tôi lại muốn trở ra vùng kháng chiến. Có một sự giằng xé trong lòng như thế đấy, căng lắm”.

Sương xuống làm tôi rùng mình. Cả một vùng hồ Bodenzee lặng lẽ như không lúc nào nó lặng lẽ như thế.

– “Ông có gia nhập quân đội Pháp không? Tôi muốn nói: ông rồi có bị bắt lính và phải cầm súng chiến đấu ở phía bên kia không?
– Không. Tôi trốn lính. Tôi không muốn cầm súng nữa, dù ở bên này hay ở bên kia. Nhưng cũng phải thú thực với ông: sau cái chết của cha tôi, cũng có lúc tôi có ý định đi với quân Pháp để đánh lại những kẻ đã mang lại thảm họa cho gia đình tôi. Tôi cũng căm thù lắm chứ. Nhưng tôi đã không làm điều đó nhờ một lời khuyên.

Chả là lúc mới về thành tôi ở nhờ trong một ngôi chùa. Khi biết ý định của tôi, sư cụ bảo: “Con tính sai rồi. Đi với cái Ác này để diệt cái Ác kia không được đâu. Chỉ có cái Thiện mới diệt được cái Ác thôi, con ạ.” Tôi nghe lời sư cụ, nhưng thú thực với ông, tôi không tìm thấy cái Thiện ở đâu cả”.
– Tìm ra cái Thiện thật khó – tôi nói – Thực hành nó cách nào là vấn đề.
– Vì không tìm ra nó, không biết thực hành nó cách nào như ông nói, tôi cố gắng làm một người dân bình thường. Nhưng đến năm 75 thì tôi hiểu – cái Ác đang thắng, nếu không làm được gì để chống nó thì chỉ còn cách tránh xa nó, tránh thật xa, xa chừng nào hay chừng ấy, có gọi là chạy trốn nó thì cũng đúng. Tuy chẳng có gì vinh quang trong sự chạy trốn ấy…
– Mà chạy trốn mãi sao được? – tôi đặt câu hỏi cho chính mình.

Chúng tôi đi ngủ. Đêm đã quá khuya.

Hôm sau, trong bữa điểm tâm, ông Hiếu đột ngột ra cho tôi một câu hỏi lạ tai:
– Ông có nghĩ rằng cải cách ruộng đất là một sai lầm như người ta thường nói không?
– Một sai lầm chứ. Đó là điều không thể chối cãi. Chính đảng cộng sản vốn không bao giờ chịu nhận mình sai, cũng đã phải thừa nhận. Để phải sửa sai ngay sau đó.
– Ông tin người ta nhận ra sai, và sửa sai?
Tôi có cảm giác ông Hiếu chỉ chờ tôi nói lời khẳng định để cười vào mũi tôi. Hẳn ông có cách nhìn khác đối với việc ấy.
– Họ có sửa sai – tôi nói – Nhưng có sửa đến nơi đến chốn hay không là chuyện khác. Và còn phải sửa dài dài. Trang sử cải cách ruộng đất cho đến nay vẫn chưa khép lại được. Nghe nói mới đây thành phố Hà Nội vừa quyết định đền bù cho những gia đình có người bị giết trong cải cách ruộng đất.
– Đền bù thế nào?
– Một hay hai triệu đồng gì đó cho mỗi người bị chết oan.

Ông Hiếu cười khe khẽ:
– Tức là khoảng trên dưới một trăm đô la, theo tỷ hối hiện tại.
– Khoảng ấy.
Ông Hiếu trầm ngâm nhìn vào ly cà phê.
– Tôi thì không nghĩ đó là một sai lầm. Nói cho đúng, bây giờ tôi mới nghĩ được như thế. Trước kia thì không. Một sai lầm được tính trước rằng kết quả nó sẽ là như thế nào không thể gọi là một sai lầm. Người ta chỉ buộc lòng gọi nó là sai lầm khi mưu toan của họ bị đổ bể.
– Cái gì làm cho ông nghĩ như thế?
– Ông nhớ lại xem. Ông sẽ thấy điều này: ở bất cứ quốc gia nào, để tiến hành cải cách ruộng đất người ta phải điều tra tình hình ruộng đất trước đã. Nhưng ở miền Bắc trước cải cách ruộng đất, ông thấy không, đã không có một cuộc điều tra nào hết.

Tôi giật mình. Ý nghĩ ấy chưa từng đến với tôi.
– Ông có lý – tôi thừa nhận – Hồi ấy tôi không thấy có một báo cáo nào như thế.
– Người ta tính trước những cái mà chúng ta không nghĩ tới. Người ta muốn thanh toán cho bằng hết những người đã ủng hộ cuộc kháng chiến trong thời kỳ cách mạng còn trứng nước để thay vào đó những người hoàn toàn mới, trong thực tế chưa từng đóng góp gì cho kháng chiến. Những người này sau khi hất cẳng được những người kia vốn có vị trí trong chính quyền kháng chiến sẽ là lâu la trung thành của nhà cầm quyền. Để làm gì? Để những kẻ được chia quả thực cướp được kia, những kẻ bỗng dưng có được địa vị ăn trên ngồi trốc kia, sẽ hết mình trung thành với họ.

Tôi ngẫm nghĩ về điều vừa được nghe. Trước đó ý nghĩ như thế chưa từng đến với tôi.
– Tôi muốn hỏi thêm ông một câu.
– Ông hỏi đi.
Tôi cố gắng diễn đạt để ông Hiếu hiểu đúng tôi nghĩ gì.
– Tôi nghĩ ông Thạc muốn ông được gặp mặt cụ nhà lần cuối là một ý nghĩ tốt. Ông không nghĩ thế sao?
Ông Hiếu cười khe khẽ. Tiếng cười đầy cay đắng.
– Một ý nghĩ tốt chứ, tôi thừa nhận. Ông ấy đã giúp tôi tỉnh ngộ khi được thấy tận mắt những gì xảy ra với gia đình tôi. Với tất cả quang cảnh tôi được chứng kiến. Tôi không phải là người không biết ơn. Tôi chịu ơn ông ấy, tôi nhớ ơn ông ấy. Nhưng trong lòng tôi không cảm được cái ơn ấy. Có thể tôi tham lam chăng, khi tôi cho rằng trong những ngày ấy tôi cần ở bạn mình một cái gì hơn thế.
– Tức là?
– Một cái gì đó chứng tỏ ông ấy đứng về phía tôi, kẻ chịu đựng một bi kịch không đáng có. Một cái gì đó chứng tỏ ông ấy không đứng về phía những tên đao phủ. Cái gì đó ấy sẽ an ủi tôi nhiều hơn, sẽ cho tôi thêm một chút niềm tin đã mất vào con người… Nhưng ông ấy đã chọn chỗ đứng mà tôi không muốn thấy – chỗ của đao phủ. Và khi tên đao phủ ban ơn thì nó không vì thế mà không còn là đao phủ.

5

Ít lâu sau cuộc gặp gỡ với ông Hiếu, tôi lại gặp ông Thạc.
Ông vừa về Việt Nam tham dự cuộc họp mặt truyền thống của quân khu. Ông vui hẳn lên, khác với lần chúng tôi gặp nhau ở Stuttgart. Ông kể chuyện những đổi thay ở đất nước, chuyện Hà Nội khác trước đến không nhận ra, chuyện ông vừa được nhận thêm một huân chương vì những công trạng trong quá khứ …

– Ông đã gặp “Hiếu Nhà Băng” rồi hả? Hắn nói sao?
Tôi lúng túng:
– Ông ấy vẫn nhớ ông. Nhưng ông ấy không muốn gặp lại … Vì cuộc gặp lại ấy sẽ làm ông ấy nhớ đến những ngày ông ấy không muốn nhớ đến nữa.
– Cái thằng … Bây giờ mà không biết quên đi quá khứ, hướng tới tương lai là ngu, là xuẩn ngốc. Nó y như mấy thằng đang đòi dân chủ ấy, trong tụi nó có cả những thằng cánh ta ngày trước, tức là đã từng trong quân ngũ, chúng nó mắt nhắm tịt, ương như cua, không biết rằng nước ta bây giờ dân chủ lắm rồi, hơn hẳn ngày xưa rồi. Ngày xưa không có nhiều dân chủ là do hoàn cảnh, là chuyện bất khả kháng, chứ bây giờ khác, bây giờ đảng ta đã vững mạnh, có lực lượng quân đội, công an hùng hậu, thì đối với dân chúng cho hay chưa cho dân chủ, cho nhiều hay cho ít, là quyền của đảng. Đảng không keo xỉn trong chuyện ấy, vấn đề là phải có tính toán; cho cái gì trước cho cái gì sau, cho bao nhiêu thì vừa, cho vào lúc nào…

Tôi nhìn ông. Ông nói say sưa. Ông bốc. Trong ông ấn tượng của chuyến đi đầy tràn.
– Ông Hiếu gặp tôi, có gửi lời thăm ông.
– Thế hả? Nó chỉ gửi lời thăm thôi? Không nói thêm gì?
– Không.
Ông Thạc sa sầm mặt.
– Cái thằng vô ơn đến thế là cùng. Để lúc nào tôi kể ông nghe đầu đuôi chuyện tôi đã làm gì cho hắn … Bây giờ chúng mình kiếm cái gì chén đã. Chắc ông đi đường cũng đói bụng rồi.

Tôi vội vã chìa tay.
– Xin ông thứ lỗi, hôm nay tôi mắc một cái hẹn. Để bữa khác vậy.

Trong lòng bàn tay tôi là một vật mềm xèo, nhũn nhẽo.
– Ờ ờ … Tiếc quá! – ông Thạc nói – Còn bao nhiêu là chuyện muốn kể ông nghe.
– Tiếc quá!

Không nhìn vào mắt ông thiếu tướng cựu, tôi hấp tấp bước ra cửa.

2002

THẤY GÌ QUA SỰ KIỆN FORMOSA

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Tác giả: Anh Ngô Nhật Đăng
Minh hoạ: Niềm tin

Lại một dự đoán thiên tài của Brzezinsky từ 30 năm trước đang trở thành hiện thực, khi ông cho rằng chính những phong trào đấu tranh đòi quyền con người, đòi bảo vệ mội trường một cách ôn hòa sẽ đẩy cncs đến chỗ sụp đổ, nhất là khi nhà nước không còn có được độc quyền kiểm soát thông tin đại chúng.
Cuộc “khởi kiện thế kỷ” của bà con ngư dân miền Trung với tập đoàn Formosa đã chứng minh cho luận điểm này.
Khi những người dân bị tước đoạt quyền được sống trong sự thật, không có cơ hội tác động vào cơ cấu quyền lực, thậm chí không được tham gia vào trong cơ cấu đó, thì họ sẽ tự tạo ra cuộc sống mà các nhà triết học gọi là “cuộc sống tự chủ xã hội” và tự tổ chức theo một phương pháp nhất định, tạo ra những cơ cấu mà Václav Ben da (nhà triết học Tiệp Khắc) gọi là : “Cơ cấu song hành” phát triển khái niệm “Polis” (thành bang) thời Hy Lạp cổ đại.
Bắt đầu từ nghệ thuật, ta thấy ngoài những dòng “văn học chính thống” những bài hát của “nền âm nhạc cách mạng”…còn song hành tồn tại những tác phẩm văn học, những bài ca được lưu truyền trong xã hội, thậm chí còn phát triển mạnh hơn. Từ nghệ thuật nó lan tỏa sang những lĩnh vực khác như tư duy hay thông tin. Những tin tức trên mạng xã hội facebook đã đánh bại hoàn toàn hệ thống truyền thông báo chí của ban tuyên giáo.
Đến một giai đoạn, đời sống độc lập xã hội và các phong trào XHDS sẽ được tổ chức và được thể chế hóa ở một mức độ nhất định (quốc hội cũng phải đưa ra dự luật về việc thành lập hội). Đấy là sự phát triển tự nhiên tất yếu nếu nó không bị đàn áp tàn khốc. Và như thế một đời sống chinh trị song hành sẽ được hiện diện. Nhiều nhóm ra đời sẽ xác lập quan điểm chính trị của họ, họ sẽ hành động để bảo vệ lập trường của mình và đôi khi chống đối lẫn nhau (điều này là bình thường trong một xã hội đa nguyên).
Điều quan trọng nhất hiện nay đối với mỗi nhóm, mỗi cá nhân là ủng hộ và phát triển những “cơ cấu song hành này” bằng những hình thức đơn giản như : Hội thảo, trình diễn âm nhạc (tại các quán café của mình chẳng hạn), triển lãm tư nhân….hoặc cao hơn như : Thông tin song hành với các “nhà báo công dân”, giáo dục song hành (trường tư thục), công đoàn song hành (các công đoàn độc lập), thậm chí cả quan hệ quốc tế song hành (như những nhóm XHDS đã làm trong các cuộc vận động quốc tế)… Bởi vì đó chính là không gian mà người ta có thể sống một cuộc sống khác. Nó chính là BẤT BẠO ĐỘNG, một nỗ lực của nhân dân nhằm phủ nhận hệ thống và xây dựng cho mình trên một nền tảng mới, nền tảng của bản sắc chân thật của chính mình.
Xu hướng này theo tôi càng khẳng định nguyên tắc phải tập trung chú ý vào từng cá nhân cụ thể. Suy cho cùng mọi cơ cấu không xuất phát từ lý thuyết mà từ những nhu cầu chân chính của những con người thật sự, mọi thay đổi mà ta thấy trên thực tế đều có xuất xứ “từ bên dưới”, bới vì cuộc đời buộc chúng phải thế.
Bất cứ điều gì có ý nghĩa với một con người cũng có điểm chung với mọi người, tức là nó có thể chuyển giao cho người khác, vì vậy nó không chỉ là trách nhiệm với bản thân mà còn là trách nhiệm với cộng đồng. Không thể như một nhóm người “bất đồng chính kiến” đang dành cho mình cái quyền và đang thực hiện những “cuộc đối thoại riêng” với chính quyền.
Tuy nhiên, đời sống xã hội và các phong trào XHDS không phải là yếu tố duy nhất tác động đến lịch sử. Khủng hoảng xã hội âm ỉ, những cuộc đối đầu ngầm trong hệ thống quyền lực, các diễn biến chính trị, kinh tế trên thế giới…có thể làm rối loạn các cơ cấu quyền lực thúc đẩy các cuộc “đảo chính mềm” (nhưng chúng ta không nên phóng đại vai trò quan trọng của các vị “lãnh tụ” toàn trị).
Các phong trào cũng không phải là “Đấng cứu thế”, cũng chẳng phải là “tinh hoa” đang khai dân trí cho “quần chúng chưa giác ngộ”- Tôi cho rằng đây là một tư duy ngạo mạn, hoặc sẽ bị hiểu theo kiểu “suy bụng ta ra bụng người” rằng họ cũng như những người cs, cũng chỉ muốn “thay mặt nhân dân” để cai trị nhân dân. Thậm chí có người còn nói rằng : “để họ lãnh đạo thì cũng tệ khác gì cộng sản”. Hãy để nhân dân, thậm chí mỗi cá nhân sẽ quyết định tiếp nhận những gì và không tiếp nhận những gì từ kinh nghiệm những việc họ đã làm.
Rồi sẽ đến giai đoạn tột cùng khi mà các cơ quan đại diện của nhà nước lập ra chỉ để phục vụ cho chính nó và được xây dựng cho vai trò đó, nó chính là sự biểu hiện bắt đầu của suy tàn và cái chết. Sẽ bị những cơ cấu khác tiến hóa từ dưới lên thay thế. Trách nhiệm của chúng ta là phải giật lấy, ở đây, ngay bây giờ trong thời gian và không gian này. Tự chúng ta phải quyết định vận mệnh của mình.
Nhiều người đều nhất trí các cuộc cách mạng của thế kỷ 21 phải là bất bạo động, cách mạng bằng văn hóa, bằng tình thương, bằng sự vị tha….tóm lại là phải đặt đạo đức cao hơn chính trị, đặt trách nhiệm cao hơn mục đích. Con đường ra ấy ở đâu ? Tôi thấy nó trong tinh thần Thiên Chúa Giáo : “Điểm xuất phát cho tôi là tại đây và lúc này- Vì đấy là con đường phù hợp cho mọi người, ở mọi nơi và mọi lúc”.
Với tư cách là người ngoại đạo, tôi tri ân và cảm phục những người Công Giáo, ngưỡng mộ con đường mà họ đã bền bỉ đi qua bao thế kỷ. Tôi hồi hộp nhưng không ngạc nhiên khi theo dõi sự kiện Formosa.

BIỂN BALTIQUE 2015

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Nha Trang ???

Biển nào không mặn. Chỉ mặn nhiều hay ít.
Tâm ai chẳng ác. Duy ác ít hoặc nhiều.
Tui thuộc vào loại nào tùy người thương được bao nhiêu (lol) :v
Mà rằng
Đi biển người ta nhớ biển nhà
Ăn cơm nhà lạ nhớ cơm cha
Riêng chung một thuở nào xa vắng
Ru mãi tình quê ngủ trong ta…

TỈNH – SAY

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

TỈNH – SAY

Giữa đời loạn ta say để tỉnh
Gác chí cuồng quên tỉnh để say
Giấc hồ băm sáu ngàn ngày
Liếc nhìn thiên hạ tỉnh say ta cười
Rót thêm chén nữa vỗ đùi
Thênh thang ta hát ta cười thênh thang
Quên đi thiếp thiếp chàng chàng
Quên đi thiên hạ, hoang đàng ta say
Cuộc đời dài ngắn gang tay
So chi cao thấp, hèn tài, dại khôn
Trời thua ta cái chữ tròn
Đất thua ta cái chữ vuông, chữ dày
Xá gì, ta cứ tỉnh say

-KVC-