Category Archives: Bài ăn ý

TỔ QUỐC ĂN NĂN: MỘT LỪA ĐẢO THẾ KỶ

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Nguồn: http://ethongluan.org

Tác giả: Nguyễn Gia Thưởng
Được đăng ngày Thứ bảy, 04 Tháng 2 2017 17:28

“…Để lật sang một trang sử mới trong việc xây dựng tổ chức, tạo nấc thang cho tiến trình dân chủ hóa đất nước, chúng tôi mời tác giả Tổ Quốc Ăn Năn hoàn trả cho ông Alain Peyrefitte những gì của ông Alain Peyrefitte…”

lemalfrancais_toquocannan

LTS: Những ai đã một lần đọc Tổ Quốc Ăn Năn, chắc hẳn phải tấm tắc khen tác giả là một nhà tư tưởng, một nhà lý luận, một kho tàng trí tuệ của Việt Nam.

Lòng ngưỡng mộ độc giả dành cho tác giả Tổ Quốc Ăn Năn đạt một đỉnh điểm cao khi tác giả tự hóa thân mình là người hiền hòa, lương thiện, là người có đạo đức và tự cho mình quyền báng bổ, chê bai người Việt là hung ác, sai trái, xảo trá, gian ngoa.

Đọc xong Le Mal Français của Alain Peyrefitte, độc giả sẽ thấy Tổ Quốc Ăn Năn chính là bản sao của quyển Le Mal Français. Một bản sao như một cặp song sinh: anh là người Pháp, em là người Việt!

Đây là một bằng chứng tố cáo một vi phạm đạo đức, vi phạm luân lý và lương tâm của người cầm bút. Tác giả Tổ Quốc ăn Năn đã mượn toàn bộ ý tưởng của quyển Le Mal Français của Alain Peyrefitte và đem xào nấu vào trong tiếng Việt. Ông đã đánh cắp hầu hết ý tưởng và câu văn trong cuốn sách này. Và ngay cả cách bố cục và lối hành văn cũng được tác giả nhập tâm một cách kỹ lưỡng và sao chép không hề ngần ngại, không hề ngượng ngùng. Nói tóm lại, ông đã phạm tội đạo văn!

Chúng tôi xin mời quý độc giả đọc bài viết dưới đây để tìm hiểu xem tác giả Tổ Quốc Ăn Năn đã đạo văn như thế nào!

*****

Hiện tượng cầm nhầm trên thế giới

– Vào tháng 2 năm 2011, người ta khám phá trong luận án của ông Karl-Theodor zu Guttenberg, Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Đức, có những đoạn văn của những tác giả khác mà không công bố xuất xứ. Ông đã phải từ chức vào ngày 1 tháng 3 năm 2011 vì mắc tội đạo văn.

– Ngày 10 tháng 8 năm 2012, ký giả Fareed Zakaria của tờ TimeCNN đã bị treo giò một tuần lễ vì đã vi phạm tội đạo văn, cầm nhầm một bài của ký giả Jill Lepore của tờ New Yorker.

– Vào ngày 14 tháng 2 năm 2013, bà Annette Schavan đã phải từ chức Bộ Trưởng Giáo Dục của Đức, sau khi Viện Đại Học Dusseldorf tuyên bố thu hồi bằng tiến sĩ đã trao cho bà cách đó 33 năm. Viện tuyên bố rằng bà đã gian lận “có hệ thống và cố tình” khi viết luận án của mình. Học vị “tiến sĩ” rất được kính nể tại Đức. Danh vị này đi cùng với tên tuổi mỗi khi nêu tên của họ.

– Ngày 6 tháng 10 năm 2014, ông Alain Delchambre, chủ tịch Hội Đồng Quản trị Đại Học ULB của Bỉ đã phải từ chức vì diễn văn khai mạc của ông là một bài sao chép diễn văn của tổng thống Jacques Chirac năm 2003. Mặc dù ông không phải là người chấp bút, nhưng ông đã nhận trách nhiệm về vụ này.

Theo định nghĩa của từ điển Merriam Webster, đạo văn (plagiarize) có nghĩa là:

1. ăn cắp và biến những ý kiến hoặc câu chữ của người khác thành của mình;

2. sử dụng sản phẩm của người khác mà không ghi rõ xuất xứ;

3. ăn cắp văn chương, chữ nghĩa;

4. trình bày một ý kiến hoặc sản phẩm phát xuất từ một nguồn đã có sẵn như là một ý kiến hoặc sản phẩm mới và nguyên thủy.

Tổ Quốc Ăn Năn: một lừa đảo thế kỷ

Hiện tượng cầm nhầm chữ nghĩa, qua những thí dụ nêu ở đầu bài viết, xem ra khá phổ biến. Và Việt Nam cũng không là một ngoại lệ mà lại có phần rất thịnh hành. Duy có một hiện tượng đáng chú ý hơn hết là việc cầm nhầm của một người tự xưng là, trí thức có văn phong chính luận xuất sắc. Đó là trường hợp đặc biệt nghiêm trọng của tác giả Tổ Quốc Ăn Năn.

Chúng tôi không phủ nhận tài viết, nói rõ hơn là tài hành văn của ông, nhưng chúng tôi không thể im lặng để vô tình trở thành những kẻ đồng lõa trong việc che giấu và bao che cho một việc làm hết sức tồi tệ. Đó là việc đạo văn của tác giả Tổ Quốc Ăn Năn. Việc đạo văn đã và đang bị cả thế giới lên án, chính vì đây là một hành vi ăn cắp trí tuệ của người khác, chiếm làm sở hữu của mình.

Chúng tôi nhận thấy có bổn phận vạch trần mưu mô đánh cắp của một người mà mọi người vẫn nghĩ là đạo đức, lương thiện và khiêm nhường.

Vì đương sự đã thành công trong việc đánh cắp ý tưởng của ông Alain Peyrefitte nên trong quá trình sinh hoạt trong tổ chức, đương sự luôn dùng thủ thuật này để cướp công của người khác.

Đọc tiểu sử của Alain Peyrefitte, chúng ta thấy không phải là một sự tình cờ mà tác giả Tổ Quốc Ăn Năn chọn quyển Le Mal Français của Alain Peyrefitte để cóp nhặt ý tưởng, vì đây là một kho tàng trí tuệ, được người Pháp mến mộ.

Tưởng cũng nên nhắc lại ông Alain Peyrefitte là một nhà văn uyên bác đã từng xuất bản rất nhiều sách. Ông đã giữ chức Bộ Trưởng Thông Tin, Bộ Trưởng Giáo Dục dưới thời Tổng thống Charles De Gaulle năm 1967; Bộ Trưởng Văn Hóa và Môi trường thời Tổng thống Georges Pompidou năm 1974; Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp thời Tổng thống Valérie Giscard d’Estaing năm 1977. Cũng vào năm 1977, ông được đề cử vào Viện Hàn Lâm Pháp, một thể chế học thuật tối cao bảo vệ ngôn ngữ Pháp.

Trong ấn bản lần thứ hai, in năm 2004, trong phần Lời tựa cho lần in thứ hai, tác giả Tổ Quốc Ăn Năn (trang XVI) đã viết như sau:

“Một số bài viết phiền trách Tổ Quốc Ăn Năn đã thiếu phần thư mục giúp độc giả kiểm chứng những dữ kiện được dùng cho lý luận. Sự phiền trách này chính đáng và tác giả xin ghi nhận dù không thể thỏa mãn. Thực ra thì những tài liệu quan trọng nhất đã được liệt kê ngay trong đoạn mà chúng được đề cập tới. Tổ Quốc Ăn Năn là một quyển sách ý kiến chứ không là một cuốn sách biên khảo, và không ít những cuốn sách ý kiến đã được viết một cách tương tự, kể cả một số tác phẩm lớn. Dĩ nhiên nếu liệt kê được đầy đủ tài liệu thì cũng là điều tốt, nhưng công việc này đòi hỏi một thời gian mà tác giả rất tiếc là không có. Vả lại công việc này cũng sẽ chỉ có một giá trị rất tương đối bởi tác giả chủ yếu viết những gì mà mình biết và nghĩ chứ không viết dựa trên tài liệu tham khảo. Tác giả cũng chỉ sử dụng phần lớn những dữ kiện rất căn bản mà hầu hết mọi người quan tâm đến vấn đề đang được thảo luận đều đã biết” (Hết  trích).

Chúng tôi đi tìm sự thật và kiểm chứng xem có đúng là “tác giả chủ yếu viết những gì mà mình biết và nghĩ chứ không dựa trên tài liệu tham khảo như lời tác giả tuyên bố không.

Và gần đây chúng tôi đã khám phá ra sự thật:

– Tác giả Tổ Quốc Ăn Năn đã mượn toàn bộ ý tưởng của quyển sách “Le Mal Français” của Alain Peyrefitte;

– Tác giả Tổ Quốc Ăn Năn đã đánh cắp hầu hết ý tưởng và câu văn trong cuốn sách này;

– Ngay cả cách bố cục và lối hành văn cũng được tác giả nhập tâm một cách kỹ lưỡng và sao chép không hề ngần ngại, không hề ngượng ngùng;

– Tác giả Tổ Quốc Ăn Năn những tưởng rằng sau nhiều năm không ai tìm ra nguồn gốc những câu chữ ông đánh cắp từ đây để biên soạn sách của ông nên ông dõng dạc tuyên bố rằng ông viết không dựa trên tài liệu tham khảo.

Dưới đây, chúng tôi sẽ chứng minh không những tác giả Tổ Quốc Ăn Năn dựa vào tài liệu mà ông còn nhận vơ ý tưởng và câu văn của ông Peyrefitte một cách sống sượng.

Chúng tôi sẽ lần lượt liệt kê những đoạn văn ông “mượn đỡ” từ quyển Le Mal Français do nhà xuất bản Plon in vào năm 1976 và đem đối chiếu với những đoạn ông viết trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn, xuất bản lần thứ hai vào năm 2004.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ ghi lại một số câu tiêu biểu để mọi người có thể thấy mức độ đánh cắp của tác giả trong suốt 525 trang. Quý vị độc giả nào muốn kiểm chứng và tìm hiểu cặn kẽ hơn có thể tìm mua quyển Le Mal Français, ISBN 2-2259-00204-8, bán trên Amazon và Ebay.

Dưới đây là những bằng chứng đạo văn của tác giả Tổ Quốc Ăn Năn từ quyển sách Le Mal Francais của Alain Peyrefitte:

 

lemalfrancais_page12

1.Le Mal Français: page 12 – Que la France fût continuellement malchanceuse, j’en acquis très tôt la conviction. L’histoire qu’on nous enseignait m’en fournissait les tristes preuves.

Dịch: Tôi đã sớm xác định được rằng nước Pháp thường xuyên gặp sự không may. Môn sử mà chúng ta học đã cho tôi hàng loạt bằng chứng buồn lòng.

Tổ Quốc Ăn Năn:  trang 211 – (Dừng chân nghĩ lại) – Nhân nói về cuộc nam tiến, cũng cần nhận định rằng lịch sử nước ta có cái gì đó thực u uất. Trong suốt quá trình mở nước và dựng nước của ta hình như các biến cố trọng đại lúc nào cũng khởi đầu từ những sự không may.

lemalfrancais_page14

2.  Le Mal Français: page 14 -“la France enjuivée, revenu au temp de Dreyfus”. “Les Français ne s’aiment pas”, me disais-je.

Dịch: Nước Pháp Do Thái hoá, lui về thời Dreyfus. Tôi tự nhủ: «Người Pháp không yêu thương nhau».

Tổ Quốc Ăn Năn:  trang 71 – “Ông kể lại rằng khi ông còn trẻ vừa tới Pháp du học, một giáo sư người Pháp có kinh nghiệm nhiều về Việt Nam đã nói về người Việt Nam rằng: “Ils ne s’aiment pas” (người dịch= n.d: Họ không yêu thương nhau)

 

lemalfrancais_page48

3. Le Mal Français: page 48 – Un peuple dégoûté de l’histoire. “Les Français se considèrent comme un peuple en décadence, sinon comme un peuple fini… Ils sont malades de ce que j’appellerais le dégoût de l’histoire”. Le sursaut pouvait-il venir de ce peuple résigné?

Dịch: Một dân tộc chán ghét lịch sử. «Người Pháp tự coi mình là một dân tộc suy thoái nếu không gọi thẳng ra là một quốc gia đã hết thời… Theo tôi, họ mắc phải căn bệnh ghê tởm lịch sử». Một dân tộc đã buông xuôi như vậy liệu có thể nào bừng tỉnh đượckhông?

Tổ Quốc Ăn Năn:  trang 117 và 118 – Chính vì thế mà chúng ta luôn luôn thụ động để cho thực tế xô đẩy chứ không chủ động việc tổ chức tương lai của mình. Quan tâm về lịch sử, nghĩa là ý niệm quốc gia, đã tới chậm như vậy lại không được coi trọng. Sử bị bỏ rơi trong hơn hai thế kỷ… Cuối cùng chúng ta không biết rõ lịch sử của chúng ta, mà còn bị tiêm nhiễm những nhận định rất lệch lạc.

lemalfrancais_page104

4.Le Mal Français: page 104 – Louis XIV n’avait d’autre grand dessein que faire ployer le genou aux princes et aux nations:  il dévastait les Flandres, la Hollande, le Palatinat, les pays Rhénans, le val d’Aoste; il bombardait Gênes et Bruxelles; il forçait les autres États à reconnaître le préséance des ambassadeurs de France; il humiliait le pape Alexandre VII; il rompait les traités, il ne donnait sa parole que pour la reprendre.

Dịch: Vua Louis XIV không có tham vọng nào khác hơn là bắt các ông hoàng và các quốc gia quì gối. Ông ta tàn phá xứ Flandres (n.d.: một phần của Hà Lan), Hà Lan, đất vương công Palatinat (n.d.: một phần của Đức), xứ Rhénans (n.d.: một phần của Đức), xứ Val d’Aoste (n.d.: một phần của Ý), dội pháo thành Gênes et Bruxelles, buộc các nước khác phải nhượng bộ Đại sứ Pháp, ông ta hạ nhục Đức Giáo Hoàng Alexandre VII, phá hủy các hiệp ước, hứa hẹn chỉ để rồi nuốt lời (tráo trở, lật lọng).

Tổ Quốc Ăn Năn: trang 157 và 167 – Nguyễn Huệ là một con người hung bạo đánh tất cả mọi người: đó là một sự thực… Nguyễn Huệ dùng bạo lực và sự tráo trở trong mọi trường hợp đối với bất cứ ai có khả năng trở thành một đối thủ… Nguyễn Huệ tiêu biểu cho những giá trị mà chúng ta cần đánh đổ: võ biền, độc đoán, hung bạo, lật lọng trái ngược với những giá trị ta cần phát huy. (Chú thích: Tác giả đã hoán chuyển nhân vật Louis XIV thành vua Quang Trung).

lemalfrancais_page136

5. Le Mal Français:  page 136 – “Dieu a créé la terre mais les Hollandais ont créé les Pays Bas”. Vieux dicton hollandais

Dịch:Thượng đế đã tạo ra thế giới, nhưng chính người Hòa Lan đã làm ra đất nước Hòa Lan” – tục ngữ cổ Hòa Lan.

Tổ Quốc Ăn Năn: trang 31 – Người Hòa Lan thường tự hào: “Thượng đế đã tạo ra thế giới, nhưng chính chúng tôi đã làm ra đất nước này”.

lemalfrancais_page138

6.Le Mal Français:  page 138 – Elle possède certaines des plus puissantes sociétés mondiales: la Royal Dutch Shell, Unilever. L’empire industriel et commercial de Philips qui donne du travail à plus de 250.000 personnes en divers pays.

Dịch: Nước này (n.d: Hòa Lan) sở hữu nhiều công ty hùng mạnh trên trường quốc tế như Royal Dutch Shell, Unilever. Đế chế công nghiệp và thương mại Philips tạo công ăn việc làm cho 250.000 người tại nhiều quốc gia.

Tổ Quốc Ăn Năn: trang 31 – Các công ty lớn của Hòa Lan như Philips, Royal Dutch, Unilever có chi nhánh trên khắp các lục địa và tại tất cả các quốc gia phát triển.

—–

7. Le Mal Français:  page 138 – Une nation de boutiquiers – “C’est une nation de boutiquiers” disait avec dédain Napoléon.

Dịch: Một quốc gia chủ tiệmNapoléon đã từng nhận xét với thái độ miệt thị (n.d: về nước Anh): «Đó là một quốc gia của mấy người chủ tiệm».

Tổ Quốc Ăn Năn: trang 398 và 399 – Anh: một dân tộc bán tiệm. Napoléon I có lần nhận định một cách không mấy nể nang người Anh là một “dân tộc bán tiệm” (un peuple de boutiquiers).

lemalfrancais_page139

8.Le Mal Français: page 139 – Le miracle suisse – La Suisse n’est pas mieux dotée par la nature que les Pays-Bas. Elle est un peu plus grande, mais si montagneuse que la moitié de son territoire ne permet ni culture ni même élevage. Pas de sources d’énergie, si ce n’est hydraulique. Pas, ou presque, de minerais.

Dịch: Phép màu Thụy Sĩ – Thiên nhiên không ưu đãi Thụy Sĩ hơn so với Hoà Lan. Rộng lớn hơn một chút, nhưng nhiều núi non mà quá nửa diện tích không thể trồng trọt hay thậm chí chăn nuôi. Không có nguồn năng lượng nào, ngoại trừ thủy điện. Hầu như không có khoáng sản.

Tổ Quốc Ăn Năn: trang 405 – Như Thụy Sỹ, quốc gia nhỏ bé và bị quên lãng trong nhiều thế kỷ, không có bờ biển, không tài nguyên thiên nhiên, lại thêm núi non trùng điệp, vậy mà đã trở thành quốc gia giàu có nhất thế giới.

lemalfrancais_page320

9. Le Mal Français: page 320 – Il n’y a sans doute pas de pays au monde où les diplômes soient mieux respectés et leur validité aussi persistante.

Dịch: Có lẽ không có nước nào trên thế giới mà người ta lại tôn thờ bằng cấp như vậy và bằng cấp lại có giá trị bền bỉ đến thế.

Tổ Quốc Ăn Năn:  trang 52 và 53 – Hình như đối với người Việt bằng cấp là quan trọng nhất, và một con người trước hết được đánh giá qua những bằng cấp mà mình có. Bằng quí như thế nên tôi đã từng thấy những người “chơi bằng”. Họcó đủ loại bằng cấp… Bằng cấp đối với người Việt vì vậy có một tầm quan trọng rất đặc biệt.

lemalfrancais_page414

10. Le Mal Français: page 414 – Ignorance de la géographie et de l’histoire. Que “le Français ignore la géographie” était passé en proverbe chez les étrangers.

Dịch: Dốt nát về địa lý và lịch sử – Bảo rằng «người Pháp dốt đặc về địa lý» đã thành câu tục ngữ cửa miệng của người nước ngoài.

Tổ Quốc Ăn Năn: trang 118 – Quan tâm về lịch sử, nghĩa là ý niệm quốc gia, đã tới chậm như vậy lại không được coi trọng. Sử bị bỏ rơi trong hơn hai thế kỷ… Cuối cùng chúng ta không biết rõ lịch sử của mình, mà còn bị tiêm nhiễm những nhận định rất lệch lạc.

—–

11.Le Mal Français: page 414 – Ignorance de la géographie et de l’histoire. Nous répugnons à admettre des progrès évidents. Nous vivons sur des stéréotypes anciens, sans nous demander s’ils ne sont pas devenus désuets. Par exemple: “Les Français ne lisent pas.” On cite une vieille statistique, toujours la même, d’avant le livre de poche.

Dịch: Ngu dốt về địa lý và lịch sử. Chúng ta không chịu thừa nhận sự tiến bộ hiển nhiên. Chúng ta sống theo những khuôn mẫu cũ mà không tự hỏi xem nó đã lỗi thời hay chưa. Ví dụ như « Người Pháp không chịu đọc »: Họ cứ nhai đi nhai lại mãi những con số thống kê cũ rích, từ cái thuở sách bỏ túi còn chưa ra đời.

Tổ Quốc Ăn Năn:  trang 107 và trang 109 – Phải nhìn nhận một sự thực đau lòng: chúng ta là một dân tộc không biết đọc, không biết viết và không biết nói. Người Việt không biết truyền thông, không biết đọc, không biết viết, v.v…

lemalfrancais_page461

12.Le Mal Français: page 461 – Le propos de ce livre n’était pas d’établir un programme ou un “manifeste” mais de réfléchir et de faire réfléchir pour contribuer peut être, en suscitant un débat d’idées à nourrir les programmes et manifestes que d’autres, ensuite viendront élaborer.

Dịch: Mục đích của cuốn sách này không phải là để thiết lập một chương trình hay một “tuyên ngôn” mà là để ngẫm nghĩ, và khiến độc giả cùng ngẫm nghĩ, hy vọng tạo dịp trao đổi ý kiến, hầu đóng góp nuôi dưỡng những chương trình hay tuyên ngôn của những ai tiếp tục phát triển sau này.

Tổ Quốc Ăn Năn: trang XI – Cuốn sách này là một cuốn sách để thảo luận ý kiến, mục đích chỉ là đề xướng ra mà không kết thúc các cuộc thảo luận.

—–

Trên đây là những đoạn chúng tôi trích lại khi đọc sách của ông Alain Peyrefitte và đem so sánh với những gì đã ghi trong Tổ Quốc Ăn Năn.

Đọc hết quyển sách của ông Alain Peyrefitte, độc giả sẽ nhận thấy rằng tác giả Tổ Quốc Ăn Năn:

– không những ăn cắp ý tưởng của Alain Peyrefitte;

– mà còn ăn cắp luôn cả cách bố cục các chương đoạn;

– cũng như ăn cắp luôn cả lối hành văn.

Tác giả Tổ Quốc Ăn Năn quả là một «thiên tài»  trong nghệ thuật lấy ý kiến của người khác làm khám phá của mình (mượn lời của ông trích trang 395, khi ông nói về Marx). Ông đã vi phạm cả bốn lỗi đạo văn mà chúng tôi đã nêu trên đây, trong phần định nghĩa từ ngữ đạo văn (plagiarize) của từ điển Merriam Webster.

Trong tương lai khi có điều kiện, chúng tôi sẽ tiếp tục đưa thêm những bằng chứng đạo văn của tác giả Tổ Quốc Ăn Năn trong một mục khác.

Nhà chính trị đại tài hay chỉ là kẻ đạo văn hèn mọn?

Tổ Quốc Ăn Năn đã có thể trở thành một cuốn sách tham khảo đúng đắn cho độc giả tiếng Việt, nếu như tác giả ghi rõ nguồn xuất xứ những tài liệu ông đã dùng để dẫn chứng, nhất là ghi chú rõ ràng từng ý tưởng, từng câu văn đã trích trong đoạn nào, trang nào trong Le Mal Français!

Vì không có cơ hội và điều kiện tiếp cận được với ngoại ngữ Pháp nên có một số người đã ca tụng tác giả Tổ Quốc Ăn Năn hết lời. Họ nghĩ rằng tác giả là một người uyên bác, thông thái. Và từ đó họ xem cuốn sách này là một công trình khoa học lớn.

Thật sự, độc giả đã bị đánh lừa! Nhờ vào khả năng viết, ông đã khéo che giấu việc ông đã vay mượn quá nhiều ý tưởng của tác giả quyển Le Mal Français, Alain Peyrefitte, đến độ có thể xem đây là một bản sao chép. Chỉ vì muốn quơ hết vào mình công trình sáng tác của người khác nên ông đã lờ đi không ghi xuất xứ những sách tham khảo, viện cớ là không có thời giờ. Ông khinh thường độc giả không biết tiếng Pháp và đã thừa thắng xông lên ngạo mạn ghi trên giấy trắng mực đen rằng chủ yếu viết những gì mà mình biết và nghĩ chứ không viết dựa trên tài liệu tham khảo.

Chúng tôi xin ông đừng để cho những hậu duệ sau này phải mất công tìm kiếm, lật giở từng trang để xem ông đã ăn trộm bao nhiêu câu, bao nhiêu đoạn trong suốt 525 trang sách của ông Alain Peyrefitte. Xin ông đừng để nó trở thành một vết nhơ gây tiếng xấu cho giới trí thức Việt Nam mà chính ông đã từng chửi mắng và lên án họ là nô lệ ngoại bang, thiếu óc sáng tạo. Đúng như ông nói, đây là một sự dối trá khổng lồ!

Để tiếp tục che giấu việc đạo văn, tác giả Tổ Quốc Ăn Năn đã ngụy biện rằng “những người hoạt động chính trị, nếu không có thì giờ như trường hợp của tôi, không có bổn phận phải ghi dữ kiện lấy từ sách nào, chương nào, trang nào…” . (TQAN – trang 151). Tác giả Tổ Quốc Ăn Năn, trong suốt 617 trang, chỉ nhắc đến tên ông Alain Peyrefitte lướt qua như một thí dụ, đúng một lần ở trang 21 (Trích TQAN: Có những nhà nghiên cứu xã hội lớn, như Max Weber và Alain Peyrefitte không tin như vậy và giải thích bằng lý do văn hoá) và lấp liếm khi kể tên ông Alain Peyrefitte cùng với ông Max Weber mà không hề đề cập đến việc vay mượn văn của Le Mal Français. Mục đích chỉ để đề phòng, nếu sau này có ai đề cập đến việc đạo văn thì ông có thể ngụy biện là có nói đến tên tác giả này.

Ngoài ra ông có biệt tài mượn tên những người nổi tiếng để tạo trọng lượng cho sách của mình. Trong trang 575 và 576 cuốn Tổ Quốc Ăn Năn, ông có nhắc đến cuốn sách “Vietnam, qu’as-tu fait de tes fils?” và nói rằng đã gặp và thảo luận với tác giả. Thay vì ghi là Pierre Darcourt, ông ghi là Pierre d’Harcourt. Điều này chứng tỏ ông không hề đọc quyển sách này và không tôn trọng ông Pierre Darcourt. Điều tối thiểu khi nhắc đến một tác phẩm thì phải ghi chính xác tên của tác giả. Ông đã không làm điều này. Độc giả có quyền đặt nghi vấn là ông có thực sự gặp tác giả này hay không, vì ông đã ghi sai tên của ông Pierre Darcourt không những một lần mà đến năm lần.

Trong những năm qua, chúng tôi và nhiều người đã lầm tưởng ông là một con đại bàng, nhưng ông đã lộ nguyên hình một con tu hú lén lút đi mượn tổ của Alain Peyrefitte. Đành rằng ông học thuộc bài vở của Trần Dân Tiên, nhưng xem ra trò này đã vượt xa trình độ của thầy xưa!

Để bước sang một năm mới trong tinh thần lương thiện và lành mạnh, lật sang một trang sử mới trong việc xây dựng tổ chức, tạo nấc thang cho tiến trình dân chủ hóa đất nước, chúng tôi mời tác giả Tổ Quốc Ăn Năn hoàn trả cho ông Alain Peyrefitte những gì của ông Alain Peyrefitte.

Nguyễn Gia Thưởng
Đầu năm Đinh Dậu (2017)

 

Advertisements

ĐẢNG CSVN, NGÃ BA ĐƯỜNG LỊCH SỬ

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
Bài rất dài của FBker Lang Anh, tui gom về cho quý bà con nào thích thì theo dõi. Còn nếu ai có hứng thú tìm hiểu về con người (bí ẩn) này thì mới vào trang của ổng hén. https://www.facebook.com/Langlanhtu?fref=ts

ĐẢNG CSVN, NGÃ BA ĐƯỜNG LỊCH SỬ: TỒN TẠI VÀ DIỆT VONG?

VaDang

Tranh minh hoạ của KVC

Phong trào cộng sản toàn cầu, được khởi xướng từ những nhà tư tưởng thủy tổ là Marx và Engels, cho đến khi được nhào nặn thành một nhà nước thực tế bởi một người có tư duy thực dụng là Lenin, đã trải qua một thời kỳ dài với những phép thử liên tiếp về mặt tư tưởng. Hầu hết những lý luận cốt lõi của lý thuyết cộng sản đều khá mù mờ, với nền tảng là một xã hội ảo tưởng dựa trên khao khát và hiện nay thì đã bị phủ nhận hoàn toàn. Trong khi đó, con đường mà những đệ tử của Marx tìm cách đến với xã hội chỉ có trong mơ đó thì lại đầy rẫy sai lầm. Kết quả của những phép thử về mặt tư tưởng này là một thế giới bị cày xới bởi những biến động xã hội sâu sắc. Có nhiều triệu sinh mạng đã phải trả giá trong những cuộc chiến đẫm máu, nhiều quốc gia chìm vào vài chục thập niên trong bóng tối để đến lúc nhận ra thì đất nước đã phải trả giá nặng nề và họ lại phải bắt đầu lại từ vạch xuất phát, trong khi phần còn lại của thế giới đã có những bước tiến quá xa trong lộ trình hướng tới văn minh.

Thời hoàng kim của những lý thuyết cộng sản là những năm 1960. Khi đó người ta thống kê được trên dưới 100 quốc gia áp dụng theo hoặc mô phỏng theo các mô hình tổ chức xã hội mang sắc thái cộng sản. Sự đào thải của thực tế là một phép thử rất đắt giá. Ngày nay chỉ còn năm quốc gia tự nhận là hậu duệ của những nhà cách mạng cộng sản, gồm Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Lào và CuBa. Toàn bộ các chế độ cộng sản còn lại đều đã bị lịch sử đào thải. Với 5 chế độ cộng sản còn đang thoi thóp, họ cũng chẳng còn chút bóng dáng nào của những mô hình xã hội mà họ tuyên bố kế thừa. Cốt lõi lý luận của họ đều đã bị chính họ đào thải về mặt thực tiễn, phần còn lại chỉ là một xã hội lai căng quái đản giữa thể chế cai trị độc tài và nền kinh tế thị trường vay mượn từ các nước phương tây. Trong năm quốc gia đó, Trung Quốc đạt được những bước tiến rất mạnh mẽ trong khoảng 45 năm qua và hiện được coi là cường quốc số hai thế giới. Việt Nam có những cải cách vay mượn học theo ở một trình độ thấp hơn và lọt tốp các quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp, trong khi đó, Bắc Triều Tiên thoái lui trở lại thành một xã hội phong kiến, hai quốc gia kế chót còn lại thì đang ngấp nghé bởi những trào lưu hứa hẹn sự tan rã của các chính thể độc tài.

Sự phát triển của Trung Quốc thường được các tay tuyên huấn cộng sản tuyên truyền như một khởi đầu mới của các lý thuyết cộng sản. Trên thực tế, chính bản thân những nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc cũng hiểu rất rõ họ đang đối mặt với sự sụp đổ từ bên trong, và thời gian tồn tại của nền cái trị độc tài cộng sản ở quốc gia này là một chiếc đồng hồ đếm ngược. Sự lai căng quái đản giữa mô hình cái trị độc tài và nền kinh tế thị trường ở Trung Quốc và Việt Nam đã tạo ra những vấn nạn mà các chế độ này không thể tự giải quyết được. Toàn bộ nền tảng lý luận của họ đã bị thực tế phủ nhận và lộ rõ tính ảo tưởng, những đảng viên từ cấp thấp nhất đến cấp cao nhất lâm vào sự khủng hoảng khi không còn lý tưởng soi đường. Trong khi đó, quyền lực độc tài và những món lợi kinh tế được tạo ra từ sự cấu kết giữa quyền lực chính trị và các hoạt động kinh tế tư bản rừng rú đã khiến bộ máy cai trị của họ tha hoá nhanh chóng đến tận gốc rễ. Trên thực tế, tất cả các đảng viên từ cấp thấp nhất đến cấp cao nhất tại Trung Quốc và Việt Nam đều không sống bằng những nguồn thu nhập công khai, họ vơ vét tiền và làm giàu nhanh chóng từ những lợi thế quyền lực và thông tin mà chế độ ban phát cho họ. Bằng cách vay nợ và đánh đổi các giá trị môi trường, Trung Quốc đạt được nhiều thành tích kinh tế ngắn hạn, nhưng đi kèm với nó là sự tha hoá của toàn bộ đội ngũ cầm quyền. Tập Cận Bình khá thực lòng khi phát biểu công khai trong một hội nghị cấp cao của Đảng Cộng Sản Trung Quốc vào năm 2012: “Chúng ta đang phải dựa vào một đội ngũ tội phạm để cai trị đất nước”

Hầu như không còn ai tại Trung Quốc và Việt Nam còn tin rằng chế độ cai trị có thể trường tồn. Câu cửa miệng của các quan chức Trung Quốc khi gửi vợ con và các tài sản vơ vét được ra nước ngoài là: “Cũng chẳng còn được lâu nữa đâu”. Trên thực tế các xã hội như Trung Quốc và Việt Nam từ lâu đã biến thành những xã hội phân biệt đẳng cấp sâu sắc. Nếu có những thống kê thực tế về tài sản của các Đảng viên Đảng cộng sản cỡ trung cao cấp và toàn bộ phần còn lại của đất nước thì chắc chắn rằng hầu hết các tài sản và nguồn lực kinh tế của những quốc gia này đều nằm dưới sự chi phối, sở hữu và thao túng của các hậu duệ cộng sản. Khởi nguồn từ những cuộc đấu tranh giai cấp, nhưng hiện nay chính họ lại là một giai cấp mới, sở hữu hầu kết các nguồn lực kinh tế và sở hữu tuyệt đối về quyền lực chính trị. Tất nhiên, kiểu tồn tại của họ sẽ không thể lâu dài, vì tự thân nó là nguyên nhân của sự diệt vong. Vậy nhưng các nhà nước cộng sản tại Trung Quốc và Việt Nam vẫn đang tồn tại và cố tìm mọi cách níu kéo quyền lực của mình.

Bằng cách tận diệt tài nguyên và đánh đổi các giá trị môi trường, Trung Quốc tạo được nhiều thành tích ấn tượng về phát triển kinh tế ngắn hạn. Đây được coi là thứ bùa thiêng để các nhà tuyên huấn của Đảng Cộng Sản Trung Quốc tuyên truyền nhằm duy trì tính chính danh của mình. Tuy nhiên, đó là sự phát triển không có ngày mai vì đó là sự vay mượn tận diệt từ tương lai để đốt hết cho hiện tại. Trong lúc các vấn nạn về tham nhũng, tha hoá, bất bình đẳng và sự kìm kẹp xã hội đến nghẹt thở càng lúc càng nặng nề. Ở chiều ngược lại là một nền tảng dân chúng ngày một khao khát tự do. Một điều gần giống như thế cũng diễn ra ở Việt Nam, tuy nhiên chế độ cộng sản ở Việt Nam kém thành công hơn trong việc tạo ra các thành tích kinh tế ngắn hạn (điều không may) và đồng thời cũng kém thành công hơn trong việc bóp nghẹt sự giao lưu về các lý tưởng tự do (điều may mắn). Giữa hai chế độ độc tài cộng sản có thể coi là còn hùng mạnh này, Việt Nam có nhiều cơ sở để tạo ra sự đổi thay nhanh hơn Trung Quốc.

Mặc dù biết chắc phía trước là vực thẳm, nhưng đội ngũ lãnh đạo chóp bu ở cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều tin rằng họ có thể trì hoãn được thời gian. Những nỗ lực của họ không phải để hướng tới tương lai mà là để kéo dài cái chết. Điểm kết cuối cùng là những tay cộng sản nặng túi sẽ tìm cách đào thoát khỏi con tàu sắp đắm. Còn những gì diễn ra sau lưng thì có lẽ đúng với câu ngạn ngữ cổ xưa: “Khi trẫm đã thôi trị vì thì dẫu có nạn hồng thủy trên vương quốc cũng mặc”. Có những cách thức để họ có thể thay đổi và trì hoãn ngày tàn, và đó cũng chính là thứ mà các tay lý luận cộng sản cố gắng tìm kiếm. Bài viết này sẽ bàn đến những cách thức đó.

(Đêm đã khuya và đầu thì đang quay quay rồi, xin nợ các bạn phần còn lại vào ngày mai).

(Tiếp theo)

Những người cộng sản ở hầu hết các nước đều giành được quyền cai trị theo những cách thức giống hệt nhau. Bằng những khẩu hiệu tuyên truyền về một xã hội ảo tưởng, họ đặt trước mặt những người nghèo và thất học một cái bánh vẽ và xúi họ vào lò lửa chiến tranh. Tuy nhiên cơn điên dại tập thể cuối cùng cũng qua đi và hầu hết người dân nhận ra mình đã bị lừa vì không hề thấy sự bình đẳng cũng như phồn thịnh ở đâu mà chỉ thấy những ông chủ mới. Cho đến khi hàng loạt chế độ cộng sản sụp đổ vào cuối những năm 1980, nhân loại và chính người dân các nước đó đã phải trả những cái giá quá mức nặng nề. Dẫu sao họ đã gặp may vì cuối cùng cũng thoát khỏi một thứ quái vật ghê sợ trong lịch sử.

Tôi không phủ nhận rằng đã có những lớp người cộng sản sống vì lý tưởng với niềm tin cuồng tín rằng mình duy nhất đúng. Họ sẵn sàng phạm những tội ác không ghê tay để tiêu diệt và buộc những người khác phải nghe mình. Giữa những người cộng sản cuồng tín thời kỳ đầu và những tay đao phủ của nhà nước hồi giáo IS hiện nay có sự tương đồng giống hệt nhau: Khi cắt cổ người, chúng đều cho rằng mình đang làm vì điều đúng.

Với thứ bùa thiêng về một xã hội ảo tưởng, nơi con người có thể hưởng thụ theo nhu cầu bất chấp năng lực tạo ra của cải, những người cộng sản thế hệ đầu đã rất thành công trong việc nhồi sọ và lôi kéo con người. Họ đặc biệt thành công ở những xã hội đói nghèo với nền tảng dân trí thấp. Nhưng có lẽ khả năng trại lính hoá xã hội, triệt hạ tri thức độc lập mới là thứ vũ khí siêu hạng của những người cộng sản. Lenin và những đệ tử của ông ta đã diệt không gớm tay những người Mensevich và Trotsky, dù họ cùng là những đệ tử của Marx. Tất nhiên là bằng chuyên chính vô sản, số phận của trí thức và những kẻ thù giai cấp còn lại thì cực kỳ thê thảm. Mao Trạch Đông diệt hàng chục triệu người và tận diệt mọi tri thức đối lập cũng như các đối thủ chính trị trong Đại Cách Mạng văn hoá. Ở Việt Nam, ông Hồ Chí Minh cũng dìm chết mọi tư tưởng độc lập bằng cuộc thanh trừng nhân văn giai phẩm. Họ hành động rất giống nhau dù quy mô khác biệt nhau và mục đích thì chỉ có một: Tạo ra một xã hội tê liệt về tư duy và chỉ biết cúi đầu. Ở đây có lẽ nên có một nhận xét công bằng, Hồ Chí Minh không tàn bạo như hai tiền bối của ông ta. Trong hầu hết trường hợp, Hồ Chí Minh luôn tìm cách nấp phía sau giật dây và đẩy thuộc cấp ra hứng chịu búa rìu (Trường Chinh với cải cách ruộng đất, Tố Hữu với nhân văn giai phẩm).

Tuy nhiên những xã hội cộng sản đời đầu nhanh chóng đối diện với thực tại mà họ không thể vượt qua. Do xuất phát từ một lý tưởng sai lầm, họ thất bại trong việc tạo ra đủ của cải vật chất nuôi sống xã hội. Mục tiêu về sự công bằng thì lại càng xa vời vì cách thức họ kiểm soát quyền lực độc tài tự thân nó là gốc rễ tạo ra bất bình đẳng. Cuối năm 1980, sự tan rã của hàng loạt nhà nước cộng sản đánh dấu sự cáo chung của phong trào cộng sản toàn cầu.

Trong lúc đó, những người cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam loay hoay tìm cách thay đổi để kéo dài thời gian cai trị. Họ thấy rằng có thể vay mượn nền kinh tế thị trường vốn có năng lực nổi trội để tạo ra của cải ở phương Tây, và dựa vào đó làm bầu sữa nuôi sống cho bộ máy cai trị độc tài của mình. Trung Quốc tiến hành những cải cách cho phép sự hiện diện của đầu tư nước ngoài và kinh tế tư nhân vào cuối những năm 1970. Việt nam nối gót chậm hơn, vào khoảng cuối những năm 1980. Cả hai chế độ cộng sản này đều gặp may, vì các nước phương Tây sau khi chứng kiến sự tan rã của hàng loạt nhà nước cộng sản đã cho rằng sớm muộn gì Trung Quốc hay Việt Nam cũng sẽ phải từ bỏ con đường bế tắc ấy. Vốn nước ngoài và công nghệ đổ vào những đất nước này và tạo ra những nguồn lực mới. Trong khi đó việc giành được quyền tồn tại cũng khiến các lực lượng tư nhân tham gia vào việc tạo ra của cải. Tuy nhiên đây cũng là lúc đánh dấu sự tuyệt chủng của những người cộng sản cuối cùng. Các lợi ích kinh tế được tạo ra cùng với quyền lực độc tài không được kiểm soát đã khiến toàn bộ đội ngũ cai trị tại Trung Quốc và Việt Nam nhanh chóng thoái hóa và đánh mất chút niềm tin lý tưởng cuối cùng. Kết quả là họ trở thành một tập đoàn tội phạm gắn kết với nhau bởi những khẩu hiệu chẳng ai còn tin và các món lời được tạo ra từ bòn rút ngân sách, từ việc lạm dụng quyền lực hoặc kiếm lợi từ lợi thế thông tin bất bình đẳng. Thực tế chế độ cộng sản đã chết từ lâu ở cả Trung Quốc lẫn Việt Nam, còn lại chỉ là một tập đoàn cai trị độc tài tham nhũng dưới cái vỏ cộng sản.

Hai thứ bùa thiêng từng giúp những người cộng sản nắm quyền là cái bánh vẽ về một xã hội bình đẳng thì nay đã chẳng còn lừa gạt được ai khi chính họ đang là một đẳng cấp ưu tiên với mọi đặc quyền. Tuy nhiên, thứ vũ khí siêu hạng còn lại là kiểm soát thông tin và tiêu diệt mọi trí thức có năng lực tư duy độc lập thì họ vẫn đang làm rất tốt. Trung Quốc kiểm soát mạng xã hội cực kỳ ngặt nghèo và thanh trừng khốc liệt mọi trí thức đối lập. Việt Nam cũng đàn áp và triệt hạ không tiếc tay mọi trí thức phản biện với hàng loạt án tù. Bên cạnh đó, họ vẫn tiếp tục cố gắng duy trì hoạt động tuyên truyền để có thể lừa gạt càng lâu càng tốt những thành phần dân trí thấp nhằm kéo dài thời gian tồn tại. Tất nhiên đó là những nỗ lực không có ngày mai vì theo thời gian, khi chứng kiến tình trạng tham nhũng lan tràn, khi đối diện với sự tận diệt môi trường, những món nợ khổng lồ mà những tay cộng sản tham nhũng mang về cho đất nước, sự tuyên truyền của bộ máy cộng sản ngày một mất thiêng. Và cuộc cách mạng Internet đã bồi thêm những đòn trí mạng vào bức màn sắt kiểm duyệt tư tưởng và tuyên truyền của những chế độ cộng sản. Họ càng lúc càng mất khả năng kiểm duyệt và bóp nghẹt các luồng tư tưởng tự do. Bên cạnh đó chính nền kinh tế thị trường mà họ vay mượn từ các xã hội phát triển phương tây đã tạo ra sự hội nhập và giao lưu văn hoá mà họ không thể chặn lại được. Vấn đề mà tất cả các lãnh tụ cộng sản đều nhận ra: Không phải là có tồn tại được hay không mà là còn tồn tại được bao lâu nữa?

Những căn bệnh trầm kha mà Trung Quốc và Việt Nam đang mắc phải gần như giống hệt nhau. Một bộ máy tha hoá tham nhũng đến tận gốc rễ với hiệu năng cai trị ngày càng suy giảm. Các nguồn tài nguyên cạn kiệt và môi trường bị tàn phá nặng nề đến mức mất khả năng duy trì cuộc sống thông thường. Tình trạng bất công lan tràn với nạn lạm dụng quyền lực của bộ máy cai trị đã bị lưu manh hoá. Gánh nặng nợ công đè ngập cổ người dân cộng với mức thuế phí nặng nề trong khi các dịch vụ an sinh xã hội vô cùng tồi tệ.

Nhà lãnh đạo thuộc thế hệ thứ 5 của chế độ cộng sản Trung Quốc là Tập Cận Bình cố gắng tìm lối thoát bằng một cuộc đại thanh trừng với chiến dịch đả hổ diệt ruồi, nhắm mục tiêu vào những đối thủ chính trị của ông ta và những thành phần quan chức tham nhũng không nằm trong phe cánh của Tập. Nhưng hơn ai hết Tập Cận Bình hiểu rất rõ rằng ông ta đang dựa vào một phe cánh tham nhũng để triệt hạ phe cánh còn lại. Cái gọi là đấu tranh tham nhũng của Tập Cận Bình tự thân nó thất bại ngay từ đầu khi không giải quyết được sự cai trị độc tài: Quyền lực độc tài không được kiểm soát tự thân nó là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng. Tập triệt hạ được một phe nhưng nếu Tập tước đoạt quyền lợi hoặc chĩa mũi dùi vào phe cánh đang phò trợ ông ta thì khi đó cái gì sẽ bảo vệ được Tập?

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sau khi thanh trừng được đối thủ chính trị lớn nhất của mình tại đại hội XII có vẻ cũng muốn thừa thắng xông lên với một chiến dịch học theo Tập Cận Bình. Nền chính trị của Việt Nam có độ tản quyền cao hơn và do đó dù có học theo thì Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng chẳng diệt nổi muỗi, chưa nói gì đến ruồi hay hổ. Và mục đích chống tham nhũng tự thân nó mâu thuẫn ngay từ đầu với nền chính trị độc tài.

Lá bài nguy hiểm nhất của Tập Cận Bình nhằm kéo dài thời gian cai trị lại chẳng dính dáng gì đến bộ máy nhà nước hay các tư tưởng tự do. Nó chính là chủ nghĩa dân tộc cực đoan mà nhiều thế hệ lãnh đạo Trung Quốc đã nối tiếp nhau vun xới như một giải pháp dự phòng cho các bất ổn xã hội.

(Khá dài rồi, đành nợ các bạn phần kế tiếp vào ngày mai. Dù sao tôi vẫn còn vài ngày nghỉ nữa 🙂 )

(Tiếp theo)

Chính sách dân tộc và chủ nghĩa bành trướng của Đảng cộng sản Trung Quốc hiện nay vừa là một nguy cơ sinh tồn nhưng cũng đồng thời là bình tiếp oxy hà hơi cho Đảng Cộng Sản Việt Nam. Điều này thoạt nghe có vẻ vô lý nhưng lại là sự thật.

Đất nước Trung Quốc quá lớn, quá đông dân và quá phức tạp. Trong nhiều thiên niên kỷ, người Trung Quốc tồn tại bằng các cuộc chiến tranh xâm lược nối tiếp nhau. Văn hoá của họ được xây dựng trên nền tảng của lối tư duy nô dịch. Vì thế hầu như khó có thể có cơ may nào cho Trung Quốc chuyển hoá sang một thể chế dân chủ trong hoà bình trong ít nhất 30 năm tới. Do đặc tính dân tộc và tính phức tạp của đất nước này, những người cộng sản ở Trung Quốc hiện nay đối diện với nguy cơ bị tàn sát hàng loạt nếu họ để mất dây cương. Riêng cá nhân tôi cho rằng nếu biến động xã hội xảy ra ở Trung Quốc, nó sẽ khiến đất nước này bị chia nhỏ làm nhiều phần. Đó sẽ là câu chuyện trong một tương lai xa. Còn hiện tại, với tư cách là một đại cường, Đảng cộng sản Trung Quốc có nhiều giải pháp để duy trì sự tồn tại của mình hơn là Việt Nam. Nguy cơ Trung Quốc tiến hành các cuộc chiến tranh quy mô nhỏ trong khoảng 10 năm tới là rất cao, và nó sẽ là một công cụ mà Đảng Cộng Sản Trung Quốc vận dụng thường xuyên để đánh lạc hướng và xoa dịu các bất ổn chính trị trong nước. Có thể thấy rõ điều đó qua các phát ngôn ngày càng kiên quyết của Tập Cận Bình về các vùng lãnh thổ tranh chấp. Đó không phải là vấn đề quyền lợi quốc gia, nó giống một chiếc phao cứu sinh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc trong bối cảnh ngày một mất dần tính chính danh trước xu thế thời đại. Chế độ cộng sản ở Trung Quốc rồi sẽ kết thúc, nhưng nó sẽ không chết một mình trước khi gây ra những tổn thương sâu sắc cho phần còn lại của thế giới và cho chính người dân Trung Quốc. Thế giới cần ý thức rất rõ về điều này.

Là một nước có đường biên hàng ngàn km với Trung Quốc và có một quan hệ lịch sử phức tạp với dấu ấn nổi trội là chiến tranh, quan hệ giữa hai chế độ cầm quyền hiện nay ở Trung Quốc và Việt Nam rất phức tạp. Một mặt, họ luôn giống nhau, trước đây là vì ý thức hệ cộng sản cổ điển, giờ đây là sự tương đồng về mô hình cai trị tham nhũng độc tài. Điều đó khiến chế độ cộng sản tại TQ và Việt Nam luôn có nhu cầu tìm đến nhau như những đồng minh thiên nhiên trong bối cảnh thế giới coi họ là những tồn tại khuyết tật của lịch sử. Mặt khác, do là những đại diện cầm quyền tại hai quốc gia giáp giới với những lợi ích đối kháng nhau về lãnh thổ, khiến hai chế độ cầm quyền này không thể không có những va chạm đôi khi đẫm máu. Ở đây tôi muốn dừng lại một chút để nói về những cuộc chiến tranh giành độc lập của Việt Nam trong thế kỷ trước mà Đảng Cộng Sản vẫn luôn dựa vào đó để đề cao tính chính danh của mình. Chính điều này sẽ giải thích đầy đủ cho mối liên kết bất thường giữa chế độ cộng sản tại Việt Nam và Trung Quốc hiện nay.

Là người truyền bá các học thuyết cộng sản vào Việt Nam, nhưng ông Hồ Chí Minh chưa bao giờ là một người cộng sản đúng nghĩa. Tất cả các trước tác ông ta để lại đều cho thấy khó có thể nói ông Hồ am hiểu sâu các tư tưởng của Marx và Engels. Tôi thậm chí tin rằng cả cuộc đời mình chưa bao giờ ông Hồ đọc hết bộ Tư Bản Luận. Trong hồi ức được thuật lại, chính ông Hồ thừa nhận rằng ông ta đến với chủ nghĩa cộng sản chỉ vì đọc được luận cương “Dân tộc và thuộc địa” của Lenin, trong đó có đề cập đến việc xây dựng một liên minh cộng sản để giải phóng giai cấp và giải phóng các nước thuộc địa. Chủ nghĩa yêu nước là thứ đã thôi thúc ông Hồ, cho đến khi ông ta tiếp cận các lý thuyết cộng sản. Việt Nam có một lịch sử lập quốc hơn 2000 năm, trải qua vô số cuộc chiến tranh chống xâm lược. Chủ nghĩa yêu nước là một giá trị cốt lõi luôn hiện diện trong huyết quản người Việt. Sự tồn tại của lòng yêu nước vốn độc lập với các lý thuyết cộng sản. Những người lính đã chiến đấu ở miền Bắc và cả những người lính đã chiến đấu để bảo vệ miền Nam, tôi tin rằng họ đều được thôi thúc bởi lòng yêu nước, vốn được truyền đời qua nhiều thế hệ. Họ đứng ở hai phía khác nhau vì những giá trị quan khác nhau và do sự chi phối của những người cầm đầu. Cuộc chiến ấy miền Bắc đã thắng. Nguyên nhân đã được phân tích rất kỹ càng bởi giới sử gia đông tây, tôi sẽ không lặp lại. Nếu cần có một nhận xét về sự kiện thống nhất 30/04/1975, tôi có thể nói thế này: “Một xã hội văn minh hơn đã bị đè bẹp bởi một xã hội dã man hơn”. Sức mạnh quân sự không phải lúc nào cũng đi kèm với trình độ văn minh, ví dụ cho điều đó trong lịch sử đã có rất nhiều. Ví dụ như cuộc xâm lược khắp Á Âu của đội quân du mục của Thành Cát Tư Hãn với những quốc gia có trình độ khoa học kỹ thuật và văn minh tiên tiến hơn nhiều. Riêng với Việt Nam, 30 năm sau ngày 30/04/1975, đất nước quay lại với những nền tảng căn bản mà người Việt Nam đã đạt được ở miền Nam trước năm 1975, một sự tụt lùi sâu sắc của lịch sử.

Có 4 triệu người đã chết trong cuộc chiến giành độc lập và thống nhất ở Việt Nam. Hầu hết những người lính đã hy sinh ở Điện Biên Phủ, ở Khe Sanh, ở Nam Lào và ở những cung rừng hẻo lánh Trường Sơn đều không phải là đảng viên cộng sản. Họ chiến đấu thuần tuý vì lòng yêu nước. Thậm chí ngay cả những người được kết nạp Đảng tại mặt trận lúc đó, họ cũng chẳng dính dáng hay hiểu gì về các tư tưởng cộng sản. Những người lính ấy đã chiến đấu và chết vì một lý do duy nhất là lòng yêu nước. Chính ở đây là một sự nhập nhèm của những người cộng sản. Lòng yêu nước đã làm nên chiến thắng 30/04/1975 chứ không phải chủ nghĩa cộng sản. Và bản thân lòng yêu nước thì đã luôn hiện diện ở Việt Nam trước, trong và sau khi những lý thuyết cộng sản đến đất nước này. Tôi tin rằng dù có hay không những người cộng sản ở Việt Nam thì đất nước cũng vẫn cứ giành được độc lập bằng cách này hay cách khác, dù là theo lối chiến tranh hay hoà bình, vì người Việt sẽ luôn không ngừng đòi hỏi nền độc lập. Trên thực tế, hầu hết các nước thuộc địa trên thế giới sau này đều đạt được độc lập mà chỉ số ít phải dùng tới chiến tranh. Và vấn đề chính ở đây là những người cộng sản đã tìm cách đánh đồng chủ nghĩa cộng sản (vốn là một thứ ngoại lai) với chủ nghĩa yêu nước (là thứ luôn sẵn có), và quy toàn bộ công lao giải phóng đất nước cho chủ thuyết của họ.

Mượn sức mạnh của lòng yêu nước để đạt được quyền lực và thiết lập được chế độ cai trị, nhưng Đảng cộng sản Việt Nam đánh cắp luôn chiến thắng ấy bằng cách ghi quyền cai trị của họ vào hiến pháp sau ngày thống nhất. Xương máu và tổn thất thuộc về toàn bộ người Việt Nam, nhưng thắng lợi thì chỉ thuộc về mình Đảng Cộng Sản. Trên thế giới hiện nay, có lẽ cũng chỉ có Việt Nam và Trung Quốc là ghi áp đặt quyền cai trị của một Đảng cầm quyền vào hiến pháp. Người dân Việt Nam đã chiến đấu và hy sinh cho nền độc lập, đổi lại là một sự cai trị áp đặt của Đảng cộng sản. Hơn 40 năm qua, họ chẳng có cơ hội lựa chọn nào khác. Đây là một trong những bi kịch lịch sử cay đắng nhất của người Việt.

Tuy nhiên, chúng ta cần công bằng với lịch sử. Tôi tin rằng ông Hồ Chí Minh và những người cộng sản đời đầu đều là những người yêu nước. Chỉ có điều họ đã nhanh chóng đặt Đảng lên trên đất nước ngay khi giành được chiến thắng. Và di sản mà họ để lại đã gây tai họa cho lịch sử đất nước trong nhiều chục năm sau này.

Chế độ cầm quyền hiện nay kế thừa di sản của những người cộng sản đời đầu. Họ hiểu rất rõ là người dân Việt Nam sẽ không chấp nhận bất cứ một chế độ cai trị nào làm tổn hại độc lập hay chủ quyền quốc gia. Và chính đây là lý do dẫn đến mối quan hệ rất phức tạp giữa Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng cộng sản Trung Quốc. Một mặt thì Đảng cộng sản Việt Nam luôn có lý do để xích gần Trung Quốc, khi họ là những thứ tồn tại bị thế giới coi là dị dạng, họ có nhu cầu xiết chặt tay nhau. Đó là lý do ông Nguyễn Văn Linh tìm cách bắt tay với TQ bằng mọi giá ở hội nghị Thành Đô, khi hàng loạt chế độ cộng sản trên thế giới sụp đổ. Mặt khác, chế độ Việt Nam không thể không đối đầu với Trung Quốc khi chủ quyền quốc gia bị xâm phạm. Đây chính là lý do mà chủ quyền Việt Nam cứ từng bước bị tổn thất bởi Trung Quốc trong hơn 30 năm qua, khi bản thân Đảng cầm quyền luôn bị giằng xé giữa việc xích gần kẻ xâm lược và sức ép bảo vệ chủ quyền đến từ phía người dân.

Chủ nghĩa bành trướng hiện là một cứu cánh để kéo dài thời gian cái trị của chế độ cộng sản Trung Quốc, nó khiến chế độ cộng sản Việt Nam đối mặt với nguy cơ lớn nếu để mất chủ quyền. Tuy nhiên cũng chính sức ép này hiện là một trong những công cụ tuyên truyền của chế độ Việt Nam, theo đó quyền cai trị của họ cần được giữ nguyên nếu không đất nước sẽ bất ổn và bị thôn tính. Tôi sẽ quay trở lại câu chuyện về luận điệu tuyên truyền này ở phần kế tiếp.

(Tiếp theo)

Trước khi viết những dòng cuối cùng trong loạt bài này, tôi muốn chia sẻ với các bạn đôi điều. Trên thực tế đối tượng chính nhắm tới của loạt bài viết này là những người cộng sản. Tôi muốn phân tích rõ thực trạng của quá khứ và hiện tại để họ thấy rõ sự ảo tưởng của những người tiền bối của họ và việc hiện nay họ đã bị tội phạm hoá và tha hoá ra sao. Đồng thời tôi cũng muốn làm rõ một thực tế: “Chế độ cai trị này không thể trường tồn”. Họ phải thừa nhận thực tế đó, để hoặc cùng tham gia vào kiến tạo tương lai với phần còn lại của đất nước, khi đó họ sẽ vẫn còn chỗ trong tương lai, hoặc cứ tiếp tục mù quáng tiếp tục đi trên con đường tội phạm và sai lầm hiện tại. Điểm kết cuối cùng sẽ là một cuộc chiến tương tàn, ngoại bang xâm lấn chủ quyền và bản thân họ, với tư cách những kẻ tội đồ mất khả năng cải tạo, bị tàn sát hàng loạt. Tôi cũng không cho rằng những kẻ độc tài chóp bu có cơ hội chạy trốn ra nước ngoài. Kadafi, Saddam Husein, sau những tội ác ghê rợn gieo rắc cho người dân, sở hữu tới hàng chục và hàng trăm tỷ USD, nhưng đều bị tận diệt. Chế độ cộng sản ở TQ có lẽ sẽ tồn tại lâu hơn Việt Nam, nhưng tôi không hình dung ra viễn cảnh các tay cộng sản chóp bu sẽ chạy trốn sang TQ, đó chẳng qua là một địa ngục khác mà sớm muộn cũng thành biển máu mà thôi.

Trong quá trình sắp xếp tư duy cho loạt bài viết này, tôi cũng mong rằng bất cứ ai khác cũng có thể tìm thấy ở đó những kiến giải khác về những sự kiện lịch sử đã và đang diễn ra. Tất nhiên, quá khứ và hiện tại sẽ là cơ sở để soi đường cho tương lai. Qua những mất mát, cay đắng và sai lầm, chúng ta sẽ biết đâu là con đường cần đi và điều gì người Việt Nam cần hướng tới.

Tôi muốn làm rõ một thực tại cuối cùng trước khi đi vào mạch trao đổi kế tiếp: Những người cộng sản thế hệ của ông Hồ Chí Minh, khi tin vào lý thuyết cộng sản, bản chất là đã tin vào một con đường không có lối ra. Lý thuyết của Marx về một xã hội công bằng tuyệt đối là một sự lừa bịp và ảo tưởng. Chừng nào loài người còn tồn tại, sẽ luôn có sự khác biệt giữa người với người. Có những người có năng lực tạo ra của cải cao hơn, và do đó họ sẽ phải có quyền thụ hưởng cao hơn người khác. Sẽ là cực kỳ vô đạo đức và cực kỳ đê tiện nếu người ta bắt những người như Bill Gate hay Steve Job phải có mức thụ hưởng cào bằng như bất cứ ai, trong khi đóng góp của họ cho văn minh nhân loại là vượt trội so với đại chúng. Nếu ngay tại thời điểm này, toàn bộ của cải của thế giới được chia đều cho bất cứ ai tồn tại trên trái đất, thì chỉ một giây sau, sẽ lại có sự chênh lệch giữa người với người. Vì những người có năng lực sáng tạo và tài năng hơn, sẽ luôn tạo ra được của cải nhiều hơn trên những gì họ có. Một xã hội theo hình dung của Marx chỉ là một xã hội ảo tưởng và hoàn toàn lừa phỉnh. Ngay cả việc những kẻ cuồng tín cộng sản có nắm được quyền hành và chia đều tất cả của cải, thì ách cai trị của chúng sẽ chỉ dẫn tới sự triệt tiêu sáng tạo của nhân loại: “Những người tài năng hơn sẽ lười đi vì họ không thể cứ mãi làm cho người khác hưởng, còn những kẻ lười biếng sẽ càng lười hơn vì chúng sẽ trông đợi người khác tạo ra của cải để chia cho mình”. Sự thất bại của Liên Xô, Việt Nam và tất cả các nước cộng sản trong quá khứ trong việc tạo ra các giá trị vật chất so với phương tây có căn nguyên gốc rễ chính từ sự ảo tưởng và bịp bợm ngay từ đầu trong lý thuyết mà họ tôn sùng. Tôi có một hình dung rất rõ ràng về tương lai nhân loại, đó sẽ là một xã hội văn minh, khuyến khích sự sáng tạo của con người. Những người tài năng và chăm chỉ sẽ vẫn luôn có sự thụ hưởng vượt trội đám đông. Ngược lại, các chính sách xã hội và tái phân phối thu nhập sẽ điều tiết một cách nhân văn, để bất cứ công dân nào của nó cũng có cơ hội có một mức sống tối thiểu, được học hành, được chăm sóc y tế, bình đẳng trước luật pháp, và điều quan trọng nhất là họ sẽ có cơ hội được vươn lên trong nhóm Top đầu, khi họ có tài và chăm chỉ. Hiện nay nhiều xã hội phương Tây, đều đã ngấp nghé xây dựng được những cơ sở có thể nói là bền vững cho một xã hội như vậy. Và chắc chắn đó không phải là thứ chủ nghĩa cộng sản ảo tưởng, vốn đã gây bao tai họa cho nhân loại của Marx cũng như những đệ tử của ông ta.

Quay lại Việt Nam, tôi cho rằng những người cộng sản thuộc thế hệ đầu tiên là những người yêu nước và có lý tưởng. Nhưng họ chính là một đám cuồng tín luôn tin rằng mình duy nhất đúng và sẵn sàng tiêu diệt không thương tiếc những ai khác ý kiến với mình. Về mặt này, họ không khác gì nhà nước hồi giáo IS hiện nay, chúng phạm những tội ác không gớm tay nhưng vẫn luôn tin rằng mình đúng. Tôi kính trọng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông ấy là một danh tướng và là một anh hùng dân tộc. Nhưng cũng chính ông Giáp là người đã tiến hành những chiến dịch tàn sát thẳng tay với những người Quốc dân đảng vào năm 1946, khi họ cũng có chân trong chính phủ lâm thời. Họ vốn là hậu duệ của anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học và nhiều tiền bối khác, nhưng họ có niềm tin lý tưởng khác những người cộng sản. Lịch sử sẽ ghi công ông Giáp với tư cách một anh hùng, nhưng cũng chính niềm tin cuồng tín là thứ thúc đẩy ông ta phạm vào những tội ác ghê gớm với chính đồng bào mình. Những vụ trấn nước, thủ tiêu, ám sát của những người cộng sản cuồng tín giết hại một số lượng không nhỏ người Việt Nam, và phần lớn trong số đó cũng chính là những người yêu nước. Một lý tưởng sai lầm và sự cuồng tín mê muội chính là đặc trưng căn bản của những người cộng sản thế hệ của ông Hồ Chí Minh. Họ để lại một di sản sai lầm và những kẻ hậu duệ của họ biến đi sản ấy thành một thứ quái vật tiêu diệt mọi tiềm năng đất nước.

Khi những hậu duệ cộng sản ở Việt Nam lựa chọn nền kinh tế thị trường và cố bấu víu nền cai trị độc tài, họ đã vi phạm mọi nguyên tắc căn bản nhất để tạo ra một xã hội minh bạch và công bằng về mặt cơ hội phát triển cho con người (tôi muốn nhấn mạnh là công bằng về cơ hội phát triển cho con người, chứ không phải công bằng về thụ hưởng). Bộ máy cai trị độc tài với quyền lực không được kiểm soát, đã nhanh chóng biến tất cả những thành phần của Đảng cộng sản Việt Nam thành một đẳng cấp ưu tiên. Sự kìm kẹp và tiêu diệt mọi tư tưởng độc lập của giới trí thức đã tạo ra một xã hội cúi đầu. Chút lý tưởng cộng sản họ không còn vì thực tại đã cho thấy lý thuyết của Marx chỉ là ảo tưởng. Khi một đám người không còn lý tưởng và nắm quyền lực tuyệt đối trong tay, chúng nhanh chóng tha hoá và biến thành tội phạm. Hiện nay bộ máy của chế độ cộng sản Việt Nam gồm hầu như toàn bộ là những kẻ vô đạo đức, tham nhũng cả về vật chất lẫn quyền lực. Sự lưu manh hoá của họ lớn dần theo thời gian và gây ra những bức xúc ngày một lớn trong xã hội. Mọi chủ trương, mọi định hướng, mọi chính sách phát triển quốc gia đều chỉ đẹp trên khẩu hiệu và bị bộ máy tham nhũng bóp méo thành những thứ đem lại lợi ích cá nhân. Các khoản đầu tư công, các chính sách phát triển… hầu như mọi thứ đều trở thành nguồn tham nhũng của bộ máy công quyền. Bộ máy ấy khiến hiệu suất vận hành của nhà nước càng ngày càng giảm, càng ngày càng tệ hại, càng ngày càng khiến những nguồn lực của quốc gia bị teo tóp. Những cơ hội phát triển nối nhau bị bỏ lỡ. Tất cả họ đều nhúng chàm, tất cả họ đều là tội phạm. Mức độ thì ngày một tệ hại hơn theo thời gian cho đến khi nào quyền lực độc tài của họ bị tước bỏ. Tôi muốn dành đôi lời để nói với những đảng viên cộng sản còn có lương tâm: Liệu có ai trong các vị dám đặt tay lên ngực và thề với lương tâm của mình, với tương lai con cháu mình, rằng các vị đang sống bằng nguồn thu nhập sạch, chứ không phải là nguồn tiền phi pháp. Có lẽ cũng có những người cộng sản, những công chức cấp thấp bị gạt bên lề guồng máy ăn chia và họ phải bươn trải sống bằng những sinh kế khác có từ sức lao động của họ. Tuy nhiên số đó nếu không muốn nói là ít thì sẽ là rất ít.

Sự tồn tại của chế độ độc tài tham nhũng ở Việt Nam đang là thứ tạo ra hầu hết bất công và làm băng hoại đạo đức xã hội. Thế hệ trẻ giờ đây lớn lên không còn có niềm tin, khi họ chứng kiến những kẻ nắm vị trí cao trong xã hội lại là những kẻ vô đạo đức nhất, giả dối nhất. Chưa bao giờ đất nước mất phương hướng và mất niềm tin như hiện nay. Sự tham nhũng và bộ máy trì trệ đang tàn phá hầu hết nguồn lực và cơ hội phát triển quốc gia. Bộ máy tham nhũng và vô đạo đức hiện nay không những cản trở xã hội đi lên, mà nó còn tiếp tay cho cái xấu và gây ra tàn phá. Thảm họa Fomosa, có thể nói bản chất là sự cấu kết giữa đám quan chức tham nhũng với những nhà tư bản bất lương. Ở những quốc gia mà thể chế minh bạch và phục vụ người dân, chắc chắn sẽ không có cơ hội cho những kế hoạch đầu tư tàn phá quốc gia, và nếu có, nó cũng sẽ bị chặn lại nhanh chóng và thủ phạm sẽ phải chịu sự trừng phạt nặng nề. Tôi rất muốn hỏi ông Nguyễn Phú Trọng đã nghĩ gì khi đến thăm Formosa giữa lúc toàn bộ biển miền Trung bị hủy diệt, và ông ta đã nghĩ gì khi sau đó ít tháng Formosa chịu khoản phạt 500 tr USD, một số tiền quá nhỏ so với những hủy diệt lâu dài mà họ gây ra đối với toàn bộ môi trường biển Việt Nam. Đây chỉ là một câu hỏi nhỏ và tôi biết chắc nó sẽ không bao giờ được trả lời.

Cuộc cách mạng Internet hiện nay đã khiến vòng kiểm tỏa của Đảng cộng sản về mặt thông tin hoàn toàn thất bại. Họ đã cố gắng hạn chế và chặn lại mạng xã hội nhưng thất bại. Trong những nỗ lực tuyệt vọng, họ thậm chí đã dùng tới giải pháp hạn chế băng thông giao lưu quốc tế khi có những sự kiện nhạy cảm diễn ra. Thuật ngữ “Cá mập cắn cáp viễn thông quốc tế” là một thực tế được sáng tạo ra bởi cơ quan kiểm duyệt tư tưởng của Đảng. Chế độ hiện nay không thể chặn được việc giao lưu thương mại, đầu tư, văn hoá của Việt Nam với phần còn lại của thế giới. Họ cũng không thể chặn lại sự giao lưu về tư tưởng và khao khát ngày một lớn về tự do, về quyền con người và về quyền công bằng giữa người với người trong việc có cơ hội giống nhau để vươn lên. Tôi rất buồn cười khi ông Nguyễn Xuân Phúc khuyến khích những người trẻ Việt Nam khởi nghiệp, ông ta nói đến Google, đến Facebook .. trong khi những điều đó được tạo nên trên nền tảng của tự do ngôn luận, thứ mà chế độ ông ta phục vụ luôn tìm cách kiểm duyệt và bóp chết. Tôi không rõ Zukerberg sẽ làm được cái gì nếu Mỹ là một nước kiểm soát về tự do ngôn luận, chắc chắn là facebook sẽ bị bóp chết ngay từ những dòng code đầu tiên.

Những người cộng sản hiện nay hiểu rất rõ họ là ai và thực tại thế nào. Vì thế từ nhiều năm nay những khẩu hiệu minh bạch mà họ hô hào hàng năm đều chỉ là những thứ sáo rỗng và loè bịp. Họ kê khai tài sản nhưng chỉ kê cho riêng họ xem, cũng chỉ có trời mới biết lũ tội phạm ấy kê gì và dấu của cải của chúng ở đâu. Họ hô hào chống tham nhũng chỉ để cho có, vì toàn bộ họ đều nhúng chàm. Thỉnh thoảng có một kẻ kém may mắn bị loại bỏ giữa các màn đấu đá phe cách và bị lôi ra làm thịt nhằm loè bịp người dân. Gần đây tôi có đọc một phát ngôn báo chí của Bộ Tài Nguyên, theo đó bộ này 10 năm qua không có tham nhũng, trong khi bất cứ ai cũng biết rõ một trong những cái ổ tham nhũng nhức nhối nhất chính là các cơ quan công quyền quản lý đất đai. Sự vô đạo đức và gian trá đã đạt đến đỉnh cao với những kẻ cộng sản độc tài hiện tại.

Nguồn lực của đất nước đang bị đánh cắp, cơ hội phát triển của đất nước đang bị tiêu diệt, và chủ quyền của đất nước thì đang ngày càng nguy ngập, vì với một bộ máy cai trị dễ dàng mua được bằng tiền, chúng cũng dễ dàng bán rẻ lợi ích quốc gia.

Tất cả những bất cập trên đều sẽ là những thứ khiến chế độ cộng sản hiện nay rồi sẽ phải chấm dứt. Trong nhiều năm qua, đảng cộng sản tuyên truyền về công lao của họ trong phát triển kinh tế quốc gia. Họ lờ đi thực tế là tài nguyên đất nước, môi trường sống vốn là những của cải cần được sử dụng dè xẻn và để lại cho đời sau thì nay đã bị họ đốt hầu hết cho hiện tại, mà phần lớn trong số đó đã rơi vào túi những tay tham nhũng. Và số nợ mà chế độ này đã vay thì đã vượt quá khả năng cân bằng của họ. Tất nhiên chế độ này khi kết thúc sẽ không trả nợ, người trả chính là người dân Việt Nam. Và tình trạng nợ công của Việt Nam đến nay đã cực kỳ nguy ngập. Từ năm 2016 trở về trước, người ta nói về số liệu nợ công đã vượt ngưỡng trần tính trên tỷ lệ GDP và năng lực cân đối dòng tiền của ngân sách. Từ lúc ông Nguyễn Xuân Phúc nắm quyền cho đến khoảng tháng 9/2016, chính phủ của ông ta đã vay nợ ròng thêm trên dưới 8 tỷ USD. Cái gọi là giới hạn hay trần an toàn giờ là thứ không còn ai nhắc tới. Trong vòng 5 năm tới, khả năng rất cao Việt Nam sẽ rơi vào tình trạng vỡ nợ quốc gia, khi chính phủ không thể trả nổi các khoản nợ đáo hạn. Tình trạng của Venezuela sẽ là viễn cảnh của Việt Nam.

Tuy nhiên chế độ hiện nay có thể trì hoãn cái chết bằng cách dựa dẫm vào nguồn tiền từ Trung Quốc. Và chẳng có bữa trưa nào miễn phí trên đời, đi kèm với đó sẽ là những cuộc mặc cả đen tối mà chủ quyền đất nước bị bán rẻ. Tất nhiên, khi sự thật lộ ra thì đất nước này sẽ chìm vào một biển máu mà sự phẫn nộ của người dân sẽ tàn phá tất cả. Và trong tình huống nội loạn diễn ra, đất nước này sẽ bị kéo lùi lịch sử trên dưới 20 năm.

Tôi muốn tránh cái viễn cảnh bi đát ấy và bất cứ người Việt Nam nào cũng đều muốn tránh, tôi tin, bao gồm cả những người cộng sản. Đơn giản là bất cứ ai cũng sợ chết, đặc biệt là những người giàu, trong khi đó các hậu duệ cộng sản và gia đình họ thì đã quá giàu. Vì thế tôi kỳ vọng rằng những cuộc đối thoại sẽ đến để tránh một kết cục bi đát cho tất cả. Chế độ rồi sẽ đi đến điểm kết, nhưng đó có thể là một điểm kết đau đớn hoặc một sự chuyển biến sang văn minh trong hoà bình.

Người Myanmar đã làm được điều đó, khi chính phủ độc tài của tổng thống Theinsein đứng về phe dân tộc. Họ cũng đã từng đi theo con đường chủ nghĩa xã hội trong trên dưới 25 năm (1963 đến những năm 1980), họ cũng là những kẻ độc tài bị thế giới cô lập và lệ thuộc nặng nề vào trung quốc. Họ cũng có hơn 1000 km đường biên giới với Trung Quốc và có những phe nhóm lý khai gốc Hoa đang cầm súng chống lại chính quyền. Nhưng với con đường hoà giải và hợp tác, hiện nay họ đã đi trên đúng lộ trình để văn minh hoá đất nước. Con đường của Myanmar không dễ đi, nhưng họ đã tìm được lối thoát khỏi màn đêm đen tối.

Tôi muốn nói rằng, đó là một tấm gương cho chế độ cộng sản Việt Nam. Họ có thể thay đổi để tiếp tục tồn tại như một lực lượng chính trị giữ vai trò quan trọng trong một tương lai không hề ngắn. Họ có thể cải cách để giữ lại quyền tồn tại của mình, và điều quan trọng nhất là điều đó sẽ mở ra cánh cửa để Việt nam đi theo đúng lộ trình văn minh hoá quốc gia.

Tất nhiên những cải cách không phải có thể đến ngay một sơms một chiều. Ngay từ lúc ngày, chế độ Việt Nam có thể tiến hành những bước đi đầu tiên:

1. Nới lỏng kiểm duyệt báo chí và mạng xã hội. Đó là cách tốt nhất để góp phần giảm tham nhũng và minh bạch quốc gia. Nó cũng là bước đi đầu tiên để cải thiện hình ảnh của chế độ trước mắt công chúng. Nới lỏng kiểm duyệt không đồng nghĩa với việc những lời chỉ trích chính phủ sẽ tăng lên, trái lại, xã hội sẽ ghi nhận và bước đầu ủng hộ khi chế độ đi trên đường đúng.

2. Sa thải và tái bố trí việc làm cho ít nhất 30% người hưởng lương ngân sách, chỉ có bằng cách đó mới đảm bảo được việc cân đối giữa nguồn thu, nguồn trả nợ và các khoản đầu tư công cần thiết phục vụ phát triển đất nước. Tăng thu nhập cho toàn bộ đội ngũ công chức còn phục vụ, đảm bảo mức thu nhập của khu vực công về mặt chính thức là ngang bằng hoặc tương ứng với 80% thu nhập của khu vực tư. Đây là cách duy nhất để giúp chặn làn sóng ăn cắp và tham nhũng bắt buộc của những công chức có thang bậc đãi ngộ thấp hiện nay.

3. Ban hành một đạo luật chống tham nhũng mới, theo đó ấn định một sắc lệnh ân xá cho tất cả các hành vi tham nhũng phát sinh trong quá khứ, đồng thời đề ra những mức án cực nặng cho các vụ việc tham nhũng mới phát sinh sau thời hạn ân xá.

4. Thành lập một cơ quan tư pháp mới, một cơ quan điều tra mới hoàn toàn tách biệt với tất cả những cơ quan tư pháp và điều tra hiện nay. Chọn lựa những người có đạo đức và lý tưởng phụng sự quốc gia vào những cơ quan này và cấp cho họ chế độ đãi ngộ đặc biệt. Những cơ quan này được trao quyền điều tra, truy tố và xét xử tất cả các vụ việc tham nhũng mới phát sinh sau thời hạn ân xá được ấn định trong luật chống tham nhũng mới.

5. Bước đầu tách biệt toàn bộ hoạt động của các cơ quan tư pháp khỏi bộ máy hành pháp.

6. Giải tán Mặt trận tổ quốc hiện tại, thành lập một mặt trận toàn dân mới theo đó các đại diện được lựa chọn thông qua bầu cử một cách công khai, minh bạch. Các đại biểu này sẽ cùng thành lập một hội đồng soạn thảo hiến pháp mới. Cần đề ra một lộ trình thay đổi hiến pháp, ấn định thời điểm chấp nhận việc thành lập tự do chính đảng (có thể là một lộ trình 5 năm). Nội dung cơ bản nhất của hiến pháp mới cần có những nhân tố căn bản của một xã hội văn minh, trong đó yếu tố nền tảng phải được xây dựng xoay quanh quyền lập chính đảng và bầu cử tự do. Để tránh các xung đột với chế độ hiện tại, có thể học theo đúng mô hình Myanmar đang thực hiện: Chế độ cũ nắm quyền chỉ định 25% số ghế nghị viện không cần bầu cử, và nắm quyền phủ quyết hiến pháp. Đây là một sự cải cách nửa vời, nhưng nó là cách tốt nhất để bắc một cái cầu giữa hiện tại với tương lai, cho đến khi đất nước đủ văn minh để có một bản hiến pháp thực sự tiến bộ.

7. Trên tất cả, cần thực sự cầu thị, cần thực sự thiện chí vì đó là cách duy nhất giúp đất nước tránh khỏi vực thẳm hoang tàn của bạo loạn và chiến tranh.

Sẽ chỉ có hai con đường với chế độ cộng sản hiện nay: Hoặc tiếp tục cố níu kéo quyền lực, vay nợ mọi thứ, bán rẻ mọi thứ cho đến ngày tàn dìm đất nước và chính chế độ này vào lò lửa chiến tranh, hoặc bắt đầu thay đổi, để tạo cơ sở cho đất nước này hướng tới tương lai trong đó bao gồm tương lai của chính đảng cộng sản.

Vài lời cuối cùng: Đây là những ý tưởng viết vội của tôi trong vài ngày nghỉ, nó được gõ và post trực tiếp ngay trên trình duyệt. Tôi biết nó sẽ vẫn có những khiếm khuyết và những hạn chế. Tôi mong rằng nó sẽ được hoàn thiện hơn qua sự chia sẻ và góp ý của tất cả mọi người. Chúng ta cần sự chia sẻ, chúng ra cần sự thiện chí và chúng ta cần sự khách quan. Bởi đó là những thứ đất nước này đang rất thiếu.

Tôi muốn minh định rõ ràng rằng những phân tích của tôi về thực trạng xã hội là những gì đang diễn ra và rồi sẽ diễn ra. Tôi trông đợi vào sự thay đổi của chế độ nhưng sẽ không đặt cược vào đó. Mọi sự thay đổi tích cực ở đất nước này phụ thuộc vào chính mỗi người dân Việt Nam. Chỉ khi mỗi chúng ta biết rõ ràng đâu là con đường phải đi và sẵn sàng phấn đấu vì nó một cách văn minh, hoà bình nhưng kiên quyết thì đất nước mới có hy vọng. Cũng chỉ khi đó cái thể chế tham nhũng hóa này mới chịu áp lực buộc phải thay đổi, không phải vì đất nước, mà vì chính họ. Có hàng nghìn và hàng chục nghìn người đã góp phần mình trong chuỗi sự kiện Formosa. Có hàng triệu người đã tham gia phong trào “Một lá phiếu, một cái tên”. Con đường này không dễ đi, nhưng tôi tin đất nước này còn có hy vọng.

Câu hỏi chúng ta cần phải làm gì không dễ trả lời, vì mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau. Tuy nhiên, các bạn có thể tham khảo lại một bài viết cũ: “Vì sự tiến bộ xã hội” https://web.facebook.com/Langlanhtu/posts/10204824521012889?_rdr

Tôi dự kiến sẽ viết một loạt phân tích về các phong trào đầu tranh cho tiến bộ xã hội ở Việt Nam kể từ năm 1975 trở lại đây, cả trong nước lẫn hải ngoại, và trình bày những kiến giải của mình về những giải pháp mà những công dân tiến bộ có thể làm để thúc đẩy lộ trình văn minh ở Việt Nam. Tuy nhiên, có lẽ dự án này sẽ được gác lại cho đến khi tôi hệ thống được tư duy về vấn đề này và tìm thấy thời gian rảnh.

Trân trọng.

 

TIẾN TRÌNH THÀNH LẬP TẬP HỢP DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Nguồn: Thông Luận

LTS: Trên 20 năm qua Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên vẫn luôn trung thành với ba giá trị nền tảng Dân chủ Đa Nguyên, Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc và Bất Bạo Động. Nhưng gần đây trong tổ chức đã có người khẳng định tuyên bố “Đa nguyên hay đối lập chỉ có ý nghĩa và cần thiết trên phạm vi quốc gia. Trong một tổ chức chỉ có nhất nguyên chứ không thể có đa nguyên”. Vì muốn bảo vệ ba giá trị cốt lõi của tổ chức, chúng tôi đã phải lấy quyết định không đồng hành với những ai ủng hộ lời tuyên bố trên. Chúng tôi xin gởi đến quý độc giả một tài liệu ghi lại theo thứ tự thời gian những bước đi của tổ chức trong nỗ lực tìm kiếm những giải pháp để đưa đất nước vào kỷ nguyên dân chủ đa nguyên, hòa nhịp với đà tiến của thế giới, mưu cầu hạnh phúc cho người Việt Nam. Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên được hình thành do sự kết hợp của nhiều người và nhiều nhóm, đặc biệt là hai nhóm: Thông Luận – hậu thân nhóm thảo luận Cơ Sở Tư Tưởng – và Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu. Trong bài viết này chúng tôi sẽ trình bày những diễn tiến của tiến trình hình thành Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên từ lúc khởi đầu cho đến năm 2016.
I. Việc hình thành nhóm thảo luận về hướng đi cho Việt Nam đưa đến tài liệu Cơ Sở Tư Tưởng
Vào cuối năm 1982 tại Paris, một số những anh em – cùng chí hướng – đã họp với nhau để bàn về tình hình đất nước và có ý lập một nhóm thảo luận chính trị kiểu thinktank, chứ không có ý định lập đảng. Nhóm này đã họp vào tối thứ năm, hai tuần một lần, nên trong bài viết này chúng tôi tạm gọi là nhóm thảo luận Cơ Sở Tư Tưởng. Tất cả đều thấy rằng trước tình trạng bế tắc của đất nước, cần phải có đường hướng, nguyên tắc và chủ trương nhất định để hướng dẫn nhóm đi vào những cuộc thảo luận sâu rộng về mọi mặt của quốc gia như kinh tế, xã hội, chính trị, quốc phòng, giáo dục v.v…

Không kể một vài tháng đầu tìm cách quy tụ người, có thể nói những ngưởi khởi xướng chính thức ngồi lại với nhau thảo luận về vấn đề Việt Nam gồm các ông: Nguyễn Gia Kiểng, Trần Thanh Hiệp, Dương Kích Nhưỡng, Nguyễn Trọng Kha, Nguyễn Văn Lộc, Vũ Tiến Vượng, Phạm Ngọc Lân và bà Quản Mỹ Lan. Ngoài ra, còn một số người khác, trong đó có hai anh em ông Chu Vũ Hoan và Chu Vũ Ca, nhưng chỉ vài ba tháng sau họ thấy không thích hợp với tinh thần thảo luận của nhóm nên đã rút lui.

Nhóm khởi xướng thảo luận như vậy trong gần 2 năm. Và ông Kiểng đã ghi chép lại những gì anh em đã bàn luận. Bản viết tay đó lại được nhóm mổ xẻ, sửa chữa, góp ý và cuối cùng ông Nguyễn Gia Kiểng đã đúc kết và chấp bút tài liệu này, mang tên là Cơ Sở Tư Tưởng.

Anh em trong nhóm đưa ra ba khái niệm chính về một nước Việt Nam, muốn được ổn định để phát triển, thoát khỏi nghèo đói và tụt hậu là:

1. Việt Nam sẽ là một nước với thể chế Dân Chủ Đa Nguyên, nơi tiếng nói của mọi cộng đồng dân tộc đều phải được lắng nghe;

2. Để tiến tới một nước Việt Nam Dân Chủ Đa Nguyên trước hết nhà nước Việt Nam phải xóa bỏ mọi yếu tố gây chia rẽ và thực tâm thi hành chính sách Hòa Giải để Hòa Hợp Dân Tộc hầu đưa đất nước tiến lên;

3. Để hướng tới 2 mục tiêu trên, chúng ta cần đấu tranh trong tinh thần bất bạo động vì máu người Việt Nam đã đổ nhiều rồi nên chúng ta không có quyền đòi hỏi người dân phải hy sinh tánh mạng nữa mà cần phải đấu tranh bằng chính trị, bằng tư tưởng.
II. Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu
Vào năm 1981, khi Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu sinh hoạt ở Strasbourg, một số thành viên trong nhóm đã đi thăm Quốc hội Âu Châu. Trong dịp này, ông Nguyễn Văn Thế đã thấy một tờ giấy giới thiệu (flyer) với tựa đề L’unité dans la différence (Đồng nhất trong sự khác biệt). Trong tờ giấy giới thiệu này, có nói về khái niệm Đa nguyên (Pluralisme).

Từ ý tưởng này, vào năm 1982, nhóm Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã thảo luận về tinh thần Đa Nguyên trong dân chủ trong kì sinh hoạt học tập ”Tìm một tư tưởng và hướng đi mới cho Lực Lượng” ở Lausanne – Thuỵ Sĩ. Đồng thời anh em nhóm Lực Lượng đã chấp nhận tinh thần đa nguyên trong dân chủ là nền tảng cơ sở của tổ chức. Từ đó, các thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã thảo luận về đề tài “Làm thế nào để áp dụng tính đa nguyên vào thực tế của cuộc sống và trong sinh hoạt dân chủ”. Trong nhiều kì sinh hoạt học tập sau đó, các thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã bàn về thuyết âm dương, phép biện chứng của Hegel và Karl Marx cũng như những diễn biến xảy ra trên thực tế của các nước dân chủ Tây và Bắc Âu và cuối cùng đã đi đến bốn kết luận cho việc áp dụng tính đa nguyên của dân chủ vào thực tế: một là tôn trọng và chấp nhận các khác biệt, dù có thể rất đối kháng nhau, cũng là chuyện bình thường của cuộc sống và là động lực làm cho xã hội phát triển; hai là vì lợi ích tập thể, trong đó có lợi ích cá nhân của mỗi người cho nên dù khác biệt thế nào đi nữa, chúng ta vẫn phải hợp tác với nhau để làm việc chung. Vì hợp tác chính là sức mạnh của xã hội dân chủ đa nguyên, giúp xã hội tồn tại và phát triển; ba là để có sự hợp tác giúp tập thể tồn tại và phát triển, chúng ta phải đối thoại và thảo luận để tìm ra những khác biệt của nhau với mong muốn có thể dung hoà và thoả hiệp; bốn là trong xã hội, theo dân chủ đa nguyên, luôn luôn có mâu thuẫn, vì vậy hoà giải là một bắt buộc để có thể hợp tác và làm việc chung với nhau.

Đồng thời trong kì sinh hoạt học tập này, Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu cũng chấp nhận phương pháp tranh đấu bất bạo động là phương pháp mà Lực Lượng sẽ áp dụng để tranh đấu thay đổi chế độ hiện nay. Có ba lí do để các thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu chấp nhận phương pháp này: một là vì nguyên tắc dân chủ không cho phép bạo động, hai là vì bạo lực chỉ làm cho đất nước thêm đổ vỡ và ba là bạo lực không thích hợp với chủ trương của Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu. Cũng trong kì họp học tập này, thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã đồng ý về một bản nhận định về lịch sử loài người với tựa đề “Lịch sử loài người là lịch sử của những giao ước xã hội thành văn và bất thành văn”.

Ban Chấp Hành Trung Ương và Ban Chấp hành các Phân bộ của Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu vào thời điểm năm 1982, gồm có các ông Nguyễn Trọng Kha, Phan Phúc Vinh, Đặng Minh Kỷ, Phạm Xuân Cảnh, Trần Văn Răn, Đinh Văn Ban, Nguyễn Văn Thế, Vũ Đình Thọ, Nguyễn Gia Thưởng, Nguyễn Xuân Thuấn, Nguyễn Thế Vũ, Nguyễn Phú Lộc, Đặng Vũ Chính, Võ Trung Trực, Nguyễn Văn Đang, Hồ Thành Hiệu và Trần Bá Thành.

III. Sự liên kết giữa nhóm thảo luận Cơ Sở Tư Tưởng và Nhóm Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu

Sợi dây liên kết giữa hai nhóm là ông Nguyễn Trọng Kha.

Ông Kha là thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu – trụ sở trung ương đặt tại Lausanne Thuỵ Sĩ – sinh sống ở Paris và cũng có chân trong nhóm thảo luận Cơ Sở Tư Tưởng tại Paris. Chính vì thế ông Nguyễn Trọng Kha đã làm trung gian mang những suy nghĩ, ý kiến thảo luận trong nhóm Lực Lượng qua nhóm Paris và ngược lại những ý kiến của anh em Paris cũng được ông Kha đóng góp lại trong những buổi thảo luận trong nhóm Lực Lượng.

Chính sự trùng hợp về tư duy của hai nhóm về vấn đề đất nước đã đưa đến sự hợp tác tự nhiên giữa hai tổ chức. Điều này là mấu chốt cho sự kết hợp tốt đẹp giữa hai nhóm sau này dù có những thành viên ở những quốc gia xa nhau. Sự kết hợp chưa chính thức lúc ban đầu giữa hai nhóm chính là tiền thân của tổ chức Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên sau này.

Năm 1984, Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu tổ chức một buổi học tập phối hợp với trại hè dành cho gia đình thành viên Lực Lượng tại Fontenette, một làng nhỏ cách Paris hơn 300 cây số về phía Nam, để học tập về dân chủ đa nguyên và tiếp tục bàn về việc làm thế nào để áp dụng tính đa nguyên vào thực tế sinh hoạt dân chủ. Trong dịp này Lực Lượng đã mời ông Nguyễn Gia Kiểng thuộc nhóm thảo luận Cơ Sở Tư Tưởng đến tham dự. Lúc đó, ông Kiểng đã trình bày một chủ đề trong bản Cơ Sở Tư Tưởng bàn về bốn điều kiện cần có để cuộc cách mạng thành công. Điều kiện thứ nhất là mọi người trong nước đồng ý rằng chế độ hiện hữu là tệ hại và phải thay đổi. Điều kiện thứ hai là đảng hay giai cấp cầm quyền, vì mất đồng thuận trên lý tưởng chung hay vì bị ung thối, đã chia rẽ, phân hóa và đã mất bản năng tự tồn của một đoàn thể. Điều kiện thứ ba là đại đa số quần chúng đạt tới đồng thuận về một chế độ mới và những mục tiêu quốc gia mới. Điều kiện thứ tư là có một tập hợp chính trị xuất hiện phù hợp với nguyện ước của toàn dân làm điểm hội tụ cho những khát vọng đổi mới.

Khi Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản tại Hoà Lan tổ chức trại hè Hùng Vương năm 1987, Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã đề nghị Cộng đồng mời ông Nguyễn Gia Kiểng đến trình bày về dự án chính trị có tên Cơ Sở Tư Tưởng này.

IV. Việc hình thành nhóm Thông Luận và tờ báo Thông Luận
Sau khi có bản in Cơ Sở Tư Tưởng, một số người trong nhóm mới nghĩ đến việc phổ biến những tư tưởng này đến với quần chúng bên ngoài. Từ đó mới nẩy sinh ra ý kiến phải cần có một tờ báo!

Nói đến báo thì cho đến thời điểm đó mọi người chỉ biết báo dưới dạng báo ngày, báo tuần, báo tháng như ngày xưa ở Việt Nam hay sau này ở Mỹ. Ai cũng biết làm một tờ báo như vậy thì vô cùng tốn kém, trong khi mọi người trong nhóm dự định làm báo – mới qua Pháp tỵ nạn – không có tiền để thực hiện việc này!

Trong khi đó, tại Paris và vào thời gian đó, bà Quản Mỹ Lan thường nhận được một loại tài liệu của nhóm ông Raymond Barre, cựu Thủ Tướng Pháp. Đây là một loại “thư” 4 trang do nhóm ông R. Barre đưa ra để trình bày về đường lối hoạt động của nhóm mình. Việc này đã khiến bà Mỹ Lan suy nghĩ: Tại sao mình không làm báo dưới hình thức đó? Vì thế, Bà Mỹ Lan đã đưa ra ý kiến này và được anh em chấp thuận. Rồi mọi người trong nhóm góp tiền lại và quyết định ra một tờ báo với hình thức rất đơn giản nhưng có nội dung như các độc giả đã biết. Với số tiền đóng góp của nhóm lúc đó, những người làm báo quyết định phải ra được báo trong vòng ít nhất một năm dù có độc giả mua báo hay không. Tất cả những người trong nhóm đều đồng ý với nhau là tờ báo phải mang nội dung như sau đây:

1. Chỉ đăng những bài vở có tính cách chính trị, có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến Việt Nam. Không có các tiết mục văn nghệ, truyện ngắn, truyện dài hoặc thơ phú v.v…;

2. Không đăng quảng cáo, nói rõ hơn Thông Luận sẽ không sống bằng quảng cáo. Chính vì thế, sau này khi tờ Thông Luận “nổi tiếng”, nhiều nơi muốn đăng quảng cáo trên Thông Luận nhưng theo nguyên tắc đã đề ra từ đầu, nhóm làm báo đã phải từ chối;

3. Sẽ là tờ báo bán, không phải báo biếu hay cho không;

4. Sẽ không đăng lại những bài vở đã đăng trên những báo khác;

5. Với số tiền đóng góp được, anh em làm báo tiên liệu sẽ ra báo được ít nhất là một năm. Sau đó, nếu không có độc giả, không thu được  tiền vào thì ít ra tư tưởng của nhóm cũng đã được phổ biến đến đồng bào!

Quyết định là thế nhưng trong tất cả anh em, không ai có kinh nghiệm làm báo tuy kinh nghiệm viết bài đăng báo thì có! Vả lại, cũng vào thời đó, những người làm báo chuyên nghiệp cũng chỉ viết chữ không dấu rồi đánh dấu bằng tay. Ông Phạm Ngọc Lân là người làm việc trong ngành điện toán đã tạo ra bộ chữ tiếng Việt có dấu trên máy vi tính cá nhân Apple SE để làm báo Thông Luận.

Sau khi giải quyết được vấn đề tài chính và phương tiện kỹ thuật, tờ báo Thông Luận số 0 ra đời!

thongluan_so0
Cuối cùng, được sự ủng hộ của quần chúng, báo bán được!

Khi Thông Luận đã được biết đến, một số những người lâu nay im tiếng đã gia nhập nhóm như các ông Lê Văn Đằng, Huỳnh Hùng. Kế đó, ông Phạm Ngọc Lân giới thiệu ông Tôn Thất Long. Tiếp theo, bà Quản Mỹ Lan giới thiệu ông Nguyễn Văn Huy. Và sau đó ông Vũ Thiện Hân, Nguyễn Văn Khoa vv… cũng vào làm việc chung. Nhóm Thông Luận càng ngày càng vững mạnh với sự cộng tác đắc lực của những người biết trách nhiệm của mình trước vận nước.

Nhóm làm báo chủ trương chỉ gửi báo qua đường bưu điện, chứ không bán tại các sạp báo và tiệm sách. Với khuôn khổ của tờ A4, mọi người có thể photocopy dễ dàng để phổ biến. Người đầu tiên phổ biến Thông Luận dưới dạng photocopy là cựu ký giả Nguyễn Thái Lân ở miền Nam California. Ở Houston, các cảm tình viên của Thông Luận cũng phổ biến tờ báo dưới cùng một hình thức.

Đến đầu năm 1990, qua hội Nhân Quyền Việt Nam tại Hoà Lan, các thành viên Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu đã phát hành ấn bản Hòa Lan có thêm phụ trang để loan tin tức của Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản tại Hòa Lan.

Sau đó, tại một số những nước khác, nhiều người cũng cho in báo Thông Luận có thêm phụ trang. Thí dụ như vào năm 1995, hội An Vi của Linh Mục Kim Định do ông Vũ Khánh Thành tại Luân Đôn đại diện, đã xuất bản báo An Việt, trong đó vừa đăng nguyên văn báo Thông Luận vừa đăng thêm phần bài vở, tin tức của Cộng Đồng người Việt bên Anh.

Chủ nhiệm đầu tiên trong vòng 3 năm đầu của tờ nguyệt san Thông Luận là ông Bùi Quang Hiếu, 3 năm tiếp theo là ông Phạm Ngọc Lân, sau ông Lân là ông Vũ Thiện Hân. Sau đó, là các ông Diệp Tường Bảo, Nguyễn Văn Huy tuần tự phụ trách.

Dưới đây là danh sách chủ nhiệm của tờ Thông Luận, theo thứ tự thời gian:

1. Tháng 11/1987, nguyệt san Thông Luận xuất bản số 0 do ông Bùi Quang Hiếu làm chủ nhiệm cho đến số 33, tháng 12/1990;

2. Tháng 1/1991, ông Phạm Ngọc Lân làm chủ nhiệm bắt đầu từ số 34 và mãn nhiệm vào tháng 12/1993 với số 66;

3. Tháng 1/1994, ông Vũ Thiện Hân làm chủ nhiệm bắt đầu từ số 67 và mãn nhiệm vào tháng 12/2000 với số 143;

4. Tháng 1/2001, ông Diệp Tường Bảo làm chủ nhiệm bắt đầu tứ số 144 và mãn nhiệm vào tháng 8/2002 với số 161;

5. Tháng 9/2002, ông Nguyễn Văn Huy làm chủ nhiệm bắt đầu từ số 162 và chấm dứt nhiệm vụ vào tháng 12/2012 với số cuối cùng 275.
Thông Luận càng ngày càng có uy tín và trong nước bắt đầu xuất hiện “chui” những bản sao và đưa đến sự cộng tác của một số những người chia sẻ quan điểm của Thông Luận trước tình hình Việt Nam. Nhờ chủ trương bao dung và hòa bình đó, sau này những người trong nhóm làm báo đã được một số cán bộ cộng sản lão thành tin tưởng như các ông Nguyễn Hộ, Trần Độ và “nhóm Đà Lạt” – gồm có các ông Hà Sĩ Phu; Mai Thái Lĩnh; Tiêu Dao Bảo Cự; Bùi Minh Quốc – cũng như một số đảng viên phản tỉnh đóng góp bài vở cho báo Thông Luận.

Vì từ ngày đầu anh chị em trong nhóm không lấy một tên gọi chính thức cho nhóm như các tổ chức khác vẫn làm nên từ khi ra tờ báo Thông Luận, bên ngoài gọi “nhóm không tên” này là nhóm Thông Luận.
V. Những va chạm giữa Thông Luận và các tổ chức chính trị khác trong cộng đồng
Trong lúc các tổ chức khác chủ trương giải phóng Việt Nam bằng vũ lực thì Thông Luận lại chủ trương ôn hòa. Có nghĩa là cuộc đấu tranh sắp tới giữa người Việt yêu tự do, dân chủ chống lại Cộng Sản độc tài phải qua con đường bất bạo động.

Chủ trương nhà nước cần phải có chính sách hòa giải, hòa hợp dân tộc tưởng là rất hòa bình và bao dung này lại bị một tổ chức khác đánh phá dữ dội trên phương tiện truyền thông của họ. Chủ trương Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc bị họ bóp méo là Thông Luận chủ trương Hòa Hợp, Hòa Giải với Cộng Sản. Điều này tạo cho những người vốn chủ trương bạo lực có cơ hội làm dấy lên một phong trào chống phá Thông Luận trên các phương tiện truyền thông như báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình tại Hoa Kỳ.

Cao điểm nhất là vụ bạo hành của một tổ chức cực đoan đối với anh em nhóm Thông Luận.

Đó là cuộc hành hung gây thương tích cho hai ông Đặng Minh Kỷ (đại diện Thông Luận Hòa Lan) và Nguyễn Gia Kiểng (Thông Luận Paris) khi anh em nhóm Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu chính thức ra mắt ấn bản Thông Luận Hòa Lan vào ngày 16 tháng 4 năm 1990 tại thị xã Nijmegen – Hoà Lan. Việc này đã được tường trình đầy đủ trong hai số báo Thông Luận 27 và 28, phát hành vào tháng 5 và tháng 6 năm 1990. Trong đó, Thông Luận cũng đã nêu đích danh hung thủ.

VI. Những dự tính kết hợp với các tổ chức khác

1. Vào năm 1990, tại Trung Tâm Độc Lập ở Stuttgart, có cuộc họp bàn về việc hợp tác chung của bốn nhóm: Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu (Thuỵ Sĩ); nhóm chủ trương báo Độc Lập (Đức) của ông Vũ Ngọc Yên; Hiệp hội Dân chủ & Phát triển Việt Nam của ông Âu Dương Thệ (Đức) và nhóm Thông Luận (Pháp). Cả bốn nhóm đã đồng ý trên nguyên tắc là sẽ hợp tác chung.

Nhưng sau một thời gian, nhóm Độc Lập và Hiệp hội Dân chủ & Phát triển Việt Nam đã lặng lẽ tách ra, chỉ còn lại hai nhóm Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu và nhóm Thông Luận. Hai nhóm này tiếp tục làm việc chung và luôn luôn coi nhau như người cùng một nhóm. Có lẽ vì cả hai đều có cùng một cơ sở tư tưởng là dân chủ đa nguyên, hoà giải hoà hợp và bất bạo động nên sự hợp tác không có gì trở ngại.

2. Một thời gian sau khi xuất bản tờ báo Thông Luận – khoảng cuối năm 1991, đầu năm 1992 – thì ông Trần Văn Sơn (Trần Bình Nam) của tổ chức Phục Hưng từ Mỹ sang gặp anh em nhóm Thông Luận Paris và đề nghị kết hợp. Hai ông Nguyễn Trọng Kha và ông Nguyễn Văn Thế, đại diện cho Lực Lượng Thanh Niên Việt Nam Tự Do Âu Châu, cùng tham dự buổi gặp gỡ này.

Việc kết hợp này không thành vì một số thành viên của Phục Hưng cho rằng Thông Luận chủ trương hòa hợp, hòa giải với Cộng Sản.

VII. Những nét chính về diễn tiến của Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên
1. Vào ngày 27/10/1990, một cuộc hội luận về Dân chủ Đa nguyên đã được Thông Luận tổ chức tại Paris với sự tham dự của năm tổ chức và thân hữu đến từ 8 quốc gia:

a. Lực Lượng Thanh Niên Viêt Nam Tự Do Âu Châu gồm các thành viên: bà Phạm Tú Minh và các ông: Đăng Minh Kỷ, Nguyễn Văn Thế, Nguyễn Gia Thưởng, Phạm Xuân Cảnh, Phan Phúc Vinh vv…;

b. Nhóm chủ trương báo Diễn Đàn Mới có bà Nguyễn Huỳnh Mai và các ông Đỗ Đình Thành và Nguyễn Văn Lang;

c. Cơ Sở Độc Lập có các ông Vũ Ngọc Yên và Dương Hồng Ân;

d. Nhóm Hiệp hội Dân Chủ & Phát triển Việt Nam gồm có các ông: Âu Dương Thệ, Lâm Đăng Châu và một số thành viên khác;

e. Nhóm Thông Luận Paris có bà Quản Mỹ Lan và các ông: Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Gia Kiểng, Phạm Ngọc Lân, Vũ Thiện Hân, Huỳnh Hùng, Lê Văn Đằng, Nguyễn Văn Khoa, Nguyễn Văn Lộc, Tôn Thất Long, Diệp Tường Bảo, Võ Xuân Minh, Nguyễn Văn Huy, Nghiêm Văn Thạch, Lê Mạnh Tường v.v…

Ngoài những người thuộc các tổ chức kể trên, còn có sự tham dự đông đảo của trí thức Việt Nam đến từ các nơi như:

– Paris có các ông: Nguyễn Văn Ái,  Lê Hữu Khoa, Hoàng Khoa Khôi, Lưu Văn Vịnh, Từ Trì, nữ nghệ sĩ Bích Thuận và bà Thụy Khuê;

– Hoa kỳ có các ông: Đỗ Quý Toàn (Vương Hữu Bột), Trần Văn Sơn (Trần Bình Nam), Đinh Quang Anh Thái và Nguyễn Quốc Trung;

– Canada có ông Tôn Thất Thiện và Nguyễn Hữu Chung;

– Luân Đôn – Anh Quốc có ông Nguyễn Anh Tuấn.
Hoiluan_DCĐN00
2. Năm 1992 Cơ Sở Tư Tưởng được in thành Dự án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên.

Năm 1992 tên Phong Trào Dân Chủ Đa Nguyên ra đời với sự hợp tác chính thức của hai nhóm: Lực Lượng thanh Niên Việt Nam tự Do Âu châu và Thông Luận.

Khi đã hợp tác, Lực Lượng đã in Dự Án Chính Trị Đa Nguyên vào tháng 1/1992 để làm tài liệu học tập nội bộ.

DACT_LLTNVNTDAC

Đến tháng 2/1992, bản chính thức của Phong Trào Dân Chủ Đa Nguyên được phát hành.
DACT1992
3. Vào năm 1996, Dự Án Chính trị  Dân Chủ Đa Nguyên được bổ sung với những vấn đề mới dựa vào những biến chuyển của tình hình trong nước. Dự Án này lấy tựa đề là Thử Thách và Hy Vọng.
DACT1996
4. Năm 2000 Phong Trào Dân Chủ Đa Nguyên chính thức trở thành Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên cho đến ngày nay.

Vào năm 2001, Dự án Chính trị Dân Chủ Đa Nguyên được bổ sung và lấy tên là Thành Công Thế Kỷ 21.

DACT2001
Danh xưng Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên được chính thức đặt cho nhóm vào năm 2000. Trước đây, khi ra tờ báo Thông Luận, nhóm không có tên chính thức. Sau nhiều lần tìm cách kết hợp với những tổ chức khác nhưng cuối cùng thấy rằng khó có thể kết hợp được nên khi bước qua thế kỷ thứ 21, nhóm cần minh danh với tên của mình. Trong một cuộc thảo luận sôi nổi trong Phân Bộ Bắc Mỹ tại San José, nhóm Thông Luận Hoa Kỳ đã đề nghị đặt tên cho nhóm là Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên. Tên gọi này, được toàn thể thành viên chấp thuận. Từ đó, danh xưng Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên trở thành tên chính thức của nhóm.

5. Năm 2015, Dự Án Chính Trị được bổ túc, viết lại và lấy tên là Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai.

bia_khaisang_kynguyen_thuhai_00
Dự Án Chính Trị, từ lúc ban đầu cho đến nay, là do công trình và trí tuệ của tập thể anh chị em trong Tập Hợp chứ không phải của riêng một cá nhân nào.

Về tờ báo Thông Luận, ban đầu nhóm chỉ hy vọng là báo sẽ sống được một năm. Trước khi ra tờ Thông Luận số 1, nhóm làm báo đã in thử tờ báo số 0 (xin xem hình đính kèm ở phần đầu). Địa chỉ tòa soạn của 100 số báo đầu tiên là tư gia của ông bà Phạm Ngọc Lân – Quản Mỹ Lan.

Như vậy kể từ số 1 ra đời vào tháng 12 năm 1998 cho đến số 275, số báo cuối cùng phát hành vào tháng 12/2012, báo Thông Luận giấy tổng cộng đã sống được 25 năm!

Chúng tôi ghi lại những sự kiện ghi trên theo thứ tự thời gian, đồng thời lưu trữ trong thư khố của tổ chức, không ngoài mục đích thực hiện trách nhiệm ghi chép và lưu giữ những công trình gầy dựng tổ chức của tất cả những thành viên đã và đang có mặt trong tổ chức. Tất cả chúng tôi đều mang hoài bão đưa nước Việt Nam vào kỷ nguyên mới của dân chủ đa nguyên.
Ngày 10 tháng 1 năm 2017,
Thay mặt Ban Quản Thủ Thư Khố
Nguyễn Văn Thế – Nguyễn Gia Thưởng – Phạm Tú Minh

THƯ HCM GỞI STALIN VỀ CHƯƠNG TRÌNH CCRĐ TẠI VN

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Tác giả: Nguyễn Thị Từ Huy
Nguồn: http://www.rfavietnam.com/node/2627

Một người bạn thân của tôi nói rằng hiện nay tư liệu về Hồ Chí Minh rất nhiều nên việc giải thiêng không còn cần thiết nữa. Theo tôi, người bạn này sống chủ yếu ở Mỹ nên mới nói như vậy. Bởi vì, một người bạn khác, là giảng viên đại học ở Việt Nam, cho biết rằng sinh viên đang hào hứng tham gia cuộc thi tìm hiểu chủ nghĩa Mác-Lê nin. Dĩ nhiên là tìm hiểu theo định hướng của đảng. Đồng thời, cá nhân tôi, khi tìm thông tin trên mạng thì thấy phong trào học tập tư tưởng Hồ Chí Minh hiện đang được thực hiện một cách rầm rộ ở các trường đại học khắp cả nước, từ Bắc chí Nam.

Tư liệu về Hồ Chí Minh nhiều, nhưng ở Việt Nam,  sách lịch sử chính thống và báo chí chính thống chỉ cho phép công bố và truyền bá những tư liệu được phép của Ban Tuyên giáo. Hãy hình dung rằng cả thế giới biết việc Marx có con riêng, nhưng báo chính thống Việt Nam không thể đăng thông tin đó. Marx hay Hồ Chí Minh đều bị kiểm duyệt, nếu các thông tin làm ảnh hưởng tới cái gọi là « tư tưởng Marx-Lê nin » và « tư tưởng Hồ Chí Minh » mà đảng đã và đang tuyên truyền. Môn lịch sử, cũng như mọi môn khoa học xã hội khác, được dùng làm công cụ tuyên truyền trong các chế độ toàn trị cộng sản. Thậm chí, cách vận hành của hệ thống toàn trị khiến cho bản thân lịch sử cũng biến mất. Đến mức Václav Havel nói rằng trong chế độ toàn trị « không có lịch sử ».

Sẽ rất nhầm lẫn nếu cho rằng người dân Việt Nam hiện nay đã hiểu rõ chế độ của mình. Đáng tiếc, sự thật là, chỉ có một số rất ít người nhìn thấy bản chất của chế độ.

Đấy là lý do khiến những người đấu tranh cho dân chủ ở trong nước nghĩ rằng cần phải đi con đường khai minh, thông qua giáo dục. Tuy nhiên, bế tắc là ở chỗ, một khi trường học bị biến thành công cụ tuyên truyền của chính quyền, với sự hỗ trợ của các tổ chức đảng, của bộ máy an ninh mật, an ninh văn hóa và cảnh sát, thì việc khai minh qua con đường giáo dục trên thực tế sẽ bị cản trở, thậm chí không thể tiến hành được. Hoặc nếu thực hiện được thì cũng chỉ nửa vời, bởi bản thân sự hợp tác, trong xã hội toàn trị, đã bao hàm trong nó sự thỏa hiệp. Nan đề là ở chỗ : sự thỏa hiệp không cho phép thực hiện được mục đích giáo dục khai minh và giáo dục tự do. Liệu có thể giải quyết được nan đề, vừa thỏa hiệp với quyền lực toàn trị vừa thực hiện được một nền giáo dục đích thực ?

Một trong những con đường có thể có hiệu quả hiện nay là truyền thông tự do trên mạng  (trong đối lập với truyền thông tuyên truyền chính thống). Đại lộ thông tin internet là không gian mà những người muốn tiến hành các chương trình khai minh, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí cần sử dụng. Ngoài ra, mọi con đường đều dẫn tới thành Rome. Câu hỏi có lẽ là: bao giờ những người hiện đang đi trên những con đường khác nhau có thể kết nối lại với nhau?

Những người muốn xây dựng Việt Nam thành một quốc gia độc lập, phát triển về kinh tế, khoa học, văn hóa, muốn xây dựng một xã hội dân chủ tại Việt Nam, cần đối diện với khó khăn to lớn này : việc bưng bít thông tin, truyền thông tuyên truyền một chiều, chính sách ngu dân… được thực hiện nhiều thập kỷ nay đã mang lại hậu quả ghê gớm đối với các thế hệ người Việt. Hậu quả đó chính là những bộ não bị đúc khuôn, bị tẩy trắng, mất khả năng tư duy, sẵn sàng tin vào những gì được tuyên truyền mà không hề hoài nghi, không hề đặt câu hỏi. Và mặt khác của vấn đề là ở chỗ những bộ óc như vậy lại tin rằng mình nắm giữ chân lý, rằng những ai khác mình đều là lạc hậu, phản động…

Trong bối cảnh đó, xin giới thiệu lại cùng quý độc giả hai bức thư của Hồ Chí Minh gửi Stalin vào tháng 10  năm 1952 về vấn đề cải cách ruộng đất. Nội dung của chúng  xác nhận rằng Hồ Chí Minh là người thiết kế chương trình cải cách ruộng đất tại Việt Nam, dưới áp lực của Liên Xô và Trung Quốc.  Hai bức thư này đã được một số người dịch và phân tích trên một số website và blog. Ở đây tôi sử dụng bản dịch tiếng Pháp, được giới thiệu trong công trình khảo cứu lịch sử « Le communisme vietnamien (1919-1991) » của nhà nghiên cứu Céline Marangé, in năm 2012, tại Paris. Đồng thời tôi cũng dịch một đoạn phân tích  của Tiến sĩ Khoa học chính trị Céline Marangé về bối cảnh  lịch sử của hai bức thư này, và một đoạn ngắn khác bình luận về tính chất phức tạp của các nhân vật lịch sử và các sự kiện lịch sử Việt Nam. (Nguyễn Thị Từ Huy)

 

I. Phân tích của Céline Marangé về bối cảnh lịch sử của hai bức thư:

Đầu những năm 1950, điện Kremlin vẫn còn rất thận trọng đối với cuộc chiến tranh Đông Dương và nhân vật Hồ Chí Minh. Kremlin chỉ ủng hộ đề nghị gia nhập Liên Hợp Quốc do nước Việt Nam Dân chủ  Cộng Hoà đệ trình ngày 29/12/1959, khi mà 9 tháng sau, Pháp cũng đưa ra một đề nghị tương tự cho « Nước Việt Nam của Bảo Đại » và cho các vương quốc Lào và Campuchia. Tương tự như vậy, khi mà tất cả các đại diện của các đảng cộng sản nước ngoài đã được mời đến dự đại hội lần thứ XIX của đảng cộng sản Liên Xô, Hồ Chí Minh buộc phải viết thư cho Stalin để được mời tham dự. Ngày 30 tháng 9 năm 1952, Hồ Chí Minh gửi cho Stalin một bức điện tín từ Bắc Kinh để xin ông ta cho phép được bí mật tới Moscou. Ngày 2 tháng 10 Stalin cho phép Hồ Chí Minh tới tham dự với hình thức « không chính thức ». Trong thư trả lời Stalin, gửi ngày 17 tháng 10, Hồ Chí Minh đề nghị Stalin cho Liu Shao-qi tham dự vào những thảo luận về Việt Nam. Ba người đó gặp nhau tại Moscou ngày 28 tháng 10 năm 1952. Trước cuộc họp, Liu Shao-qi đã đề nghị Stalin phải nài Hồ Chí Minh để ông ta tiến hành cải cách ruộng đất tại Việt Nam. Hồ Chí Minh lúc đó muốn dừng lại ở việc giảm tiền lĩnh canh. Nhưng khi Stalin yêu cầu ông ta thực hiện một cuộc cải cách ruộng đất theo mô hình cải cách ruộng đất ở Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã chịu thuận theo ý muốn của Stalin. Hai ngày sau, ông viết cho Stalin đề nghị gửi tới Việt Nam hai cố vấn Xô Viết, ưu tiên người nói tiếng Pháp, và đề nghị nhận các sinh viên Việt Nam đến đào tạo tại Moscou, và đặc biệt là cung cấp các vũ khí hiện đại. Hôm sau, ngày 31 tháng 10, Hồ Chí Minh chuẩn y một chương trình cải cách ruộng đất, đã được hiệu chỉnh với sự hỗ trợ của Liu Shao-qi và Wang Jiaxiang, đại sứ đầu tiên của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Liên Xô (1949-1951). Trước khi rời khỏi Moscou, Hồ Chí Minh viết một lá thư cảm ơn Stalin, trong đó một lần nữa ông hứa với Stalin sẽ dành tâm lực vào cuộc cải cách ruộng đất. Những bức thư này mang lại cảm giác rằng Hồ Chí Minh đã chấp nhận tiến hành cải cách ruộng đất để có được vũ khí với số lượng lớn và để tạ lỗi với Stalin, cho đến lúc đó vẫn tiếp tục dè chừng Hồ Chí Minh. Tháng 12, Stalin tuyên bố với Liu Shao-qi và đại sứ Trung Quốc rằng ông ta « về phần mình, đánh giá  Hồ Chí Minh là một người tốt, dù ban đầu thì không tốt ». Khi trở về Việt Nam, Hồ Chí Minh đề nghị Mao Trạch Đông cung cấp các chuyên gia về cải cách ruộng đất và cung cấp các ý tưởng. Ban bí thư trung ương của đảng cộng sản Trung Quốc gửi sang Wang Li, người đảm nhiệm chức vụ « cố vấn tinh thần và ý thức hệ », đồng thời, về sau, đó là một trong những người chỉ huy Cách mạng văn hóa Trung Quốc, trước khi bị bắt vì tội « khuynh tả cực đoan », vào năm 1967. Để đến phụ giúp cho Việt Nam, Wang Li có thêm Qiao Xiaoguang, một chuyên gia về cải cách ruộng đất, người đã lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc vùng Quảng Tây. Ngày 2 tháng 3 năm 1953, tức là ba ngày trước khi Stalin chết, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua một nghị định về việc phân loại bộ phận dân cư ở nông thôn, nghị định này được dùng làm cơ sở pháp lý cho cải cách ruộng đất và cho « tòa án giai cấp ».

(Trích từ cuốn « Le communisme vietnamien (1919-1991) », Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 193-195)

II. Hai bức thư của Hồ Chí Minh gửi Stalin

  1. Thư thứ nhất

Đồng chí I.V. Stalin thân  mến

Tôi đã bắt đầu soạn thảo dự án chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam, và sẽ nhanh chóng trình bày với  đồng chí.

Tôi gửi tới  đồng chí cùng một số yêu cầu sau đây, và hy vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề này.

1. Cử một hoặc 2 đồng chí Liên Xô tới Việt Nam để tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng tại chỗ. Nếu như các đồng chí đó biết tiếng Pháp, họ có thể thể giao tiếp với một tầng lớp rộng rãi. Mất khoảng mười ngày để đi từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi.

2. Chúng tôi muốn gửi 50-100 học sinh sang Liên Xô học tập, họ đã có trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam, một vài người trong số họ là đảng viên và những người khác chưa phải là đảng viên, độ tuổi của họ từ 17-22. Đồng chí có nhất trí về vấn đề này không?

3. Chúng tôi muốn nhận từ các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh (thuốc chống sốt rét) cho quân đội và dân thường, có nghĩa là cứ nửa năm nhận 5 tấn. 

4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau đây :

a) Pháo binh phòng không  37 li cho 4 trung đoàn, tổng số là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.

b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tổng số là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu.

c) Súng máy phòng không 12,7 li cho hai trung đoàn, tổng số là 200 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu. 

Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định sẽ rời khỏi Moscou vào ngày 8 hoặc ngày 9 tháng 11 [1952].

Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và những lời chúc tốt đẹp nhất !

Hồ Chí Minh

30-10-1952

2. Thư thứ hai

Đồng chí I.V. Stalin thân  mến

Tôi gửi đồng chí chương trình cải cách ruộng đất của Đảng lao động Việt Nam. Dự án chương trình do tôi soạn thảo, với sự hỗ trợ của đồng chí Liu Shao-qi và [đại sứ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Liên Xô từ 1949-1951 Wang Jiaxang].

Mong đồng chí xem xét và cho chỉ thị về vấn đề này.

Gửi đồng chí lời chào cộng sản.

Hồ Chí Minh

31/10/1952

(Phụ lục 4, Le communisme vietnamien (1919-1991), Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 534-535)

 

III. Bình luận của Céline Marangé về tính phức tạp của các nhân vật lịch sử và các vấn đề lịch sử của Việt Nam:

Chủ nghĩa cộng sản Việt Nam vẫn còn là một chủ đề nhạy cảm và tương đối ít được khai thác. Kỷ niệm về cuộc chiến tranh Việt Nam, được khơi dậy bởi sự can thiệp của Mỹ tại Irak năm 2003, và đặc biệt là cái kỷ niệm, được người ta thi nhau lý tưởng hóa, về phong trào sinh viên phản đối chiến tranh, cuộc chiến được nhìn nhận như là « chiến tranh vệ quốc chống đế quốc Mỹ », ở Pháp,  kỷ niệm ấy vẫn luôn đảm bảo cho những cảm tình nhất định đối với chế độ cộng sản Việt Nam. Ở phía ngược lại, trong một bộ phận khác của dân chúng Pháp, ký ức về cuộc chiến tranh Đông Dương, thậm chí hoài niệm về Đông Dương thuộc Pháp, vẫn còn chưa tắt hẳn. Ở Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam tiếp tục kích động những thiên kiến tồn tại rất lâu sau khi xe tăng Bắc Việt tiến vào Sài Gòn và sau khi chế độ Miền Nam Việt Nam thất thủ vào ngày 30/4/1975. Đối với những người Việt lưu vong căm thù cộng sản, Hồ Chí Minh bị cố tình biến thành quỷ dữ. Người ta gán cho ông tính cách gian xảo, quỷ quyệt, hay thậm chí cả tính cách  bá quyền mà chắc hẳn ông không bao giờ có. Tương tự như thế, mặc dù tướng Giáp giành được sự khâm phục ở những vị tướng vốn là kẻ thù của ông, nhưng ông thường xuyên bị miêu tả như một kẻ tính toán lạnh lùng, thờ ơ với số phận của lính tráng, và bị xem như một lãnh đạo có quyền lực tuyệt đối. Tai tiếng của hai người này lớn đến mức che lấp hết những nhân tố hàng đầu khác ở họ. Thế nhưng, trong thực tế, không có gì đơn giản. Không ai đơn giản hết. Cả Hồ Chí Minh, cả tướng Giáp đều không đơn giản, và có thể còn phức tạp hơn đối với những lãnh đạo Trung Quốc và Liên Xô đã cố bẻ cong các sự kiện ở Việt Nam. Từ những năm 1960 trở đi, quyền lực phần lớn đã không còn nằm trong tay họ. Những người khác đã nắm giữ quyền lực.

(Trích từ cuốn « Le communisme vietnamien (1919-1991) », Céline Marangé, Paris, SciencePo/Les Presses, 2012, tr. 29)

DONALD TRUMP NÓI GÌ VỀ VẸM PHỈ ?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
KVC chỉ làm công việc lượm lặt thôi nhen.
*****************
Đảng Cộng sản Việt Nam ư ?!
Tôi nói thật , Bao năm qua họ chỉ lợi dụng Mỹ, họ chơi trò nước đôi đi 2 dây giữa Chúng Ta và Trung Cộng.!.!..
Họ kêu gọi Mỹ và các Nước khác ủng hộ họ trong vấn đề biển đông và các vấn đề xung đột liên quan đến Trung Cộng; nhưng chính họ lại phục tùng, vâng lời Trung Cộng như một sứ giả chư hầu thời phong kiến.
Tôi là người ngay thẳng và không ưa những kẻ “2 lưỡi”; những tay lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thậm chí còn có 3-4 lưỡi…
GacMa
Không có TPP gì cả, không có tạo điều kiện hay viện trợ gì cả , và không có cho nhập khẩu hưởng lợi từ Mỹ nữa …Và nếu họ còn chơi trò “Lợi Dụng” nữa thì Chúng ta nên rút quân khỏi Biển Đông…. để cho “Anh Em chúng nó xé xác nhau”.

Đến lúc nào đó người dân Việt Nam thật sự muốn từ bỏ cái đám Tham nhũng vơ vét ấy thì Chúng ta mới suy nghĩ về chính sách tốt hơn …. cho đất nước Việt nam , và tôi luôn lên tiếng bảo vệ tiếng nói của toàn dân Việt nam dám nói về đảng cộng sản VN….
img153
Ô.Trump nói như thế rất đúng, là bộc lộ bản chất người lương thiện, người yêu nước Hoa Kỳ, dĩ nhiên.  Ô.Trump nói như thế là rất đúng với bản chất của tà đảng Việt cộng, là kẻ hai lòng.
Không người lương thiện nào thích kẻ hai lòng. Thiên Chúa không chấp nhận kẻ hai lòng:
“Các con không thể làm tôi hai chủ. Các con không thể tôn thờ Thiên Chúa và tôn thờ tiền của được.”
Tà đảng cộng sản muốn cứu nước thì phải xa lìa Trung cộng, kẻ có dã tâm tiêu diệt dân tộc VN, để dành đất cho Hán gian. Bằng chứng quá rõ, là Hán gian đã tiêu diệt:  Mãn, Hồi, Mông, Tạng.
Và đang cố gắng tiêu diệt dân tộc VN.
Hoa Kỳ không có tham vọng tiêu diệt dân VN và không có tham vọng chiếm đất, biển, đảo của VN.
Nếu bạn là ô.Trump bạn cũng phải hành xử như ông Trump. Chỉ có kẻ ngu mới để kẻ gian lừa gạt mãi, và chỉ có kẻ ngu như tà  đảng Việt cộng, cộng tác với kẻ tham làm vô độ như Chệt cộng, với tham vọng lớn nhất của nó, là tiêu diệt dân tộc VN. Đến bao giờ dân VN mới mở mắt ?
 Qua câu nói của Trump, tôi thấy tầm nhìn chính trị  của ông rất xa, rất xa hơn những tay chính trị lão luyện. Chỉ có kẻ mù mới không thấy câu nói rất yêu nước Hoa Kỳ của Trump.

NGƯỜI MỸ GỐC DO THÁI SẼ GIÚP TẬP CẬN BÌNH ?

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Thông tin tui đưa lên chỉ có tính tham khảo và… mua vui. Bà con nào gảnh gổi thì đọc chơi cho dzui nhen.

Có khi nào người Mỹ gốc Do Thái …
Sẽ giúp Tập Cận Bình chiến thắng tại biển Đông ?
Xijinpink
 
© Nguyễn Trọng Dân
Nhìn lại lịch sử để đặt vấn đề:
Sau năm 1975, hai mươi mốt triệu công dân Việt Nam Cộng Hòa bị Cộng Sản Hà Nội cầm cố, cướp bóc, đàn áp; hơn ba trăm ngàn người dân Việt bị chết tại biển Đông khi Vượt Biển tìm Tự Do; hơn bốn trăm ngàn công dân Việt Nam Cộng Hòa bị giam cầm khổ sai tại các trại tập trung theo kiểu Phát-xít Đức gọi là “trại học tập cải tạo,” trong đó, số người chết tại các trại tập trung này lên trên 165 ngàn người là ít nhất; mấy thế hệ người dân Việt sau đó phải chịu ngu dốt nghèo khó do sự độc tài tàn bạo dối lừa của Cộng Sản; đó là chưa kể đến hai triệu dân Cao Miên (Campuchia) bị bọn Cộng Sản Khờ-me Đấu Tố sát hại.
Tàn cuộc thảm khốc cho người dân ba nước Đông Dương phải chịu cảnh bị Cộng Sản hóa như vậy hoàn toàn là do có sự phù phép của người Mỹ gốc Do Thái một cách khéo léo và tinh vi từ truyền thông đến đối sách ngoại giao.
Người dân Mỹ bàng hòang ngậm ngùi trước thân phận tị nạn chết chóc của người dân Việt trong sau năm 1975 và luôn mặc cảm xấu hổ trước sự phản bội của quốc gia mình đối với Việt Nam Cộng Hòa, một sự phản bội vẫn còn được nhắc lại bởi lãnh đạo các nước Á châu ngày nay khi dò xét thiện chí hợp tác của Hoa Kỳ tại biển Đông.
Nếu trong quá khứ người Mỹ gốc Do Thái chi phối tàn cuộc cho cuộc chiến Việt Nam như vậy thì tàn cuộc của cuộc chiến hay tranh chấp tại biển Đông trong tương lai, tại sao lại không thể bị người Do Thái chi phối?
Khả năng chi phối chính trường Mỹ của người Mỹ gốc Do Thái:
Dù muốn dù không, đối sách ngoại giao và kinh tế của chính phủ Hoa Kỳ vẫn chịu ảnh huởng nặng nề từ cộng động người Mỹ gốc Do Thái.
Dù là ngang bướng cỡ nào đi chăng nữa, ứng cử viên tổng thống như ông Trump cũng công khai thừa nhận quốc gia Do Thái là đồng minh then chốt của Hoa Kỳ. Người con rể của ông cũng là gốc Do Thái. Bà Clinton cũng không khá gì hơn ông Trump khi đứa con gái duy nhất của bà kết hôn với một người làm ngành quản trị ngân hàng gốc Do Thái.
Cộng đồng Do Thái không những có mối liên kết hôn nhân chặt chẽ với những nhân vật then chốt trong chính giới Hoa Kỳ như Trump hay Clinton mà họ cũng nắm một nguồn tài lực tư bản kinh khiếp trong xã hội và chính giới Hoa Kỳ.
1.     Người Do Thái nắm truyền thông tại Mỹ:
Trước hết, người Do Thái nắm quyền kiểm soát hầu như gần hết mọi hãng truyền thông danh tiếng và quan trọng của nước Mỹ. Xin thí dụ một vài gương mặt nổi bật:
-Tỷ phú David Westin-chủ tịch hãng thông tấn ABC.
-Tỷ phú Donald Graham- giám đốc điều hành tạp chí lừng danh Washing Post.
-Tỷ phú Mortimer Zuckerma- chủ bút U.S.News & World Report.
-Tỷ phú Rupert Murdoch-giám đốc tập đoàn thông tấn truyền thông News Corporation.
-Tỷ phú Jeff Zucker- giám đốc hãng truyền hình lừng danh NBC Universial.
-Tỷ phú Arthur O. Sulzberger Jr- chủ nhân của tạp chí lừng danh The New York Time.
Đương nhiên, danh sách các nhân vật then chốt trong giới truyền thông nước Mỹ gốc Do Thái còn dài hơn nữa và không dừng lại đây.
Làm chính khách ở nước Mỹ muốn thăng tiến thì phải được giới truyền thông quãng bá tốt đẹp trước dư luận của công chúng. Cho nên, không có một chính khách nào thật sự muốn làm mích lòng giới chủ nhân báo chí truyền thông gốc Do Thái, nắm gần như toàn bộ mọi hãng truyền thông lớn, chính yếu tại nước xứ sở này.
Thậm chí, để thuận tiện và dễ dàng thắng cử, tất cả các chính khách ở Hoa Kỳ đều buộc phải tìm đủ cách lấy lòng giới chủ nhân truyền thông gốc Do Thái bằng mọi giá. Vì vậy, đối sách chính trị của các chính khách phải chiều theo quan điểm và mối bận tâm của các tỷ phú ngành truyền thông gốc Do Thái này.
Cho nên, những tin tức trình bày sự thật chỉ một nữa hết sức sai lệch nhưng khéo léo về cuộc chiến Việt Nam trước dư luận nước Mỹ hoàn tòan có bàn tay của giới chủ nhân truyền thông Do Thái dẫn đến cả xã hội buông xuôi một cuộc chiến đã chiến thắng, lầm tưởng là chiến bại trước Việt Cộng.
Trong tương lai, có lẽ các vấn đề chết chóc nổi cộm nhưng di hại chẳng là bao cho hậu thế như vấn đề ISIS sẽ được người Mỹ gốc Do Thái giựt dây liên tục trên truyền thông nhưng việc Trung Cộng độc chiếm biển Đông sẽ được giới truyền thông Mỹ tường thuật vô cùng ít ỏi. Người Mỹ gốc Do Thái nắm truyền thông sẽ ráng giật dây để khiến ISIS trở thành mối bận tâm hàng đầu của xã hội Hoa Kỳ, còn vấn đề biển Đông sẽ bị xem nhẹ “chìm xuồng” trên truyền thông khiến các chính khách, các quân nhân bị cãn trở hay bó tay khi vạch định đối sách trừng phạt Trung Cộng do xã hội Mỹ ít quan tâm.
2.     Người Do Thái có sức mạnh ảnh hưởng kinh tế rất lớn trên chính trường Mỹ:
Tổng số người dân Do Thái tại Hoa Kỳ tuy chỉ chiếm có khoảng 2% dân số nhưng tỷ phú Mỹ gốc Do Thái chiếm đến 48% tổng số tỷ phú của nước Mỹ.
Điều này cho thấy mọi chi phí ra ứng cử của bất cứ chính khách nào tại Mỹ, ở bất cứ chức vị dân cử quan trọng nào trong của chính quyền Liên Bang hay Tiểu Bang từ bất cứ địa phương nào của xứ sở này đều không ít thì nhiều, đều cần sự hổ trợ tài lực rất lớn của các tỷ phú người Do Thái cũng như đều có sự đóng góp của các tỷ phú gốc Do Thái.
Chức vị dân cử càng quan trọng thiết yếu trong chính quyền thì chi phí ứng cử càng tốn kém dẫn đến sự lệ thuộc của chính khách vào các nhà tài trợ càng nặng nề; do đó khiến các chính khách tiếng tăm tại Mỹ cần tài lực của cộng đồng Do Thái như cá cần nước vậy.
Tranh cử Thuợng Nghị Sĩ Liên Bang có thể ngốn ngân sách lên đến 11 triệu Mỹ kim dễ dàng; tranh cử vào Tòa Bạch Ốc có thể tốn từ 50 triệu Mỹ kim đến 100 triệu Mỹ kim một cách dễ dàng. Cho nên, với sức mạnh kinh khiếp về tài chánh, cộng đồng Do Thái tại Mỹ dư sức chuyển đổi đối sách ngoại giao của Hoa Kỳ theo huớng có lợi hay theo huớng mà mình muốn.
3.     Người Mỹ gốc Do Thái nắm nhiều vị trí công chức then chốt trong xã hội Mỹ:
Ngoài Ngoại trưởng Henry Kissinger ra, có thể lấy trường hợp của Alan Greenspan làm thí dụ. Greenspan, một người Mỹ gốc Do Thái làm giám đốc Quỹ Dự Trử Liên Bang suốt 19 năm từ năm 1987 cho đến 2006.
Không có một vị tổng thống tân cử nào muốn làm mích lòng ông Greenspan cả, mặc dù sách lược tài chánh của ông dẫn đến nước Mỹ bị suy giảm xuất khẩu nghiêm trọng, thậm hụt mậu dịch tăng mạnh do tiếp tục giữ vững giá dollar một cách cố chấp trong khi làm ngơ trước sự phá giá vô nguyên tắc của đồng Nguyên (hay còn gọi là Nhân Dân tệ) trong suốt hai thập kỷ 1980 và 1990 từ phía Trung Cộng.
Người kế vị ông, Ben Bernanke, cũng là một người Mỹ gốc Do Thái, nguyên giáo sư kinh tế đại học Princeton. Ông làm giám đốc Quỹ Dự Trử Liên Bang từ năm 2006 đến năm 2014 và chỉ bị thay thế ở nhiêm kỳ cuối của tổng thống Obama. Dưới thời của Ben Bernanke làm giám đốc Quỹ Dự Trử Liên Bang, tài chánh, ngân hàng, chứng khoáng và địa ốc của nước Mỹ đổ bể suy sụp thảm hại kinh khiếp do gài bẩy thổi phòng thị trường tài chánh, nhà đất thông qua lãi suất ngân hàng quá thấp không bảo chứng. Chính phủ Liên Bang phải tung thêm tiền ra để cứu vãn gấp rút các ngân hàng thua lỗ vì có quá nhiều nợ xấu trong địa ốc bất chấp nợ công của chính phủ đã vượt mức cho phép.
Trong chín người giữ chức quản trị then chốt của tập đoàn tài chính Goldman Sachs hàng đầu tại Mỹ, thì đã có quá nữa người có gốc Do Thái. Đó là chưa kể những người còn lại đều có thành thân dâu rể với người Do Thái. Xin liệt kê tên tuổi những người gốc Do Thái lừng danh nằm trong tập đoàn này như sau:
Lloyd C. Blankfein- Chủ tịch Hội Đồng Cổ Đông
Gary D. Cohn- Chủ Tịch Goldman Sachs kiêm Tổng Giám Đốc Điều Hành
John S. Weinberg & Michael S. Sherwood- Phó Chủ Tịch tập đoàn
David A. Viniar- Trưởng phòng Tài Chánh của tập đoàn
Richard A. Friedman- Trưởng phòng Nhân Sự
Tóm lại, với trình độ học vấn cao, giàu có và khôn khéo móc nối, che đậy, kết thân, cũng như nắm hết hệ thống truyền thông quan trọng, cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái là một cộng đồng thiểu số duy nhất dư sức thao túng đối sách chính trị, kinh tế của Hoa Kỳ theo ý muốn có lợi cho người Do Thái một cách dễ dàng.
Quá trình lịch sử về mối liên hệ giữa Trung Cộng và người Mỹgốc Do Thái:
Cộng đồng Do Thái tại Mỹ đã có một lịch sử móc nối liên hệ với Trung Cộng rất lâu dài và bền vững. Trong bài “Những gương mặt Do Thái nổi bật trong giới lãnh đạo đảng cộng sản Tàu,” người viết đã cố gắng trình bày sơ lược tiểu sử của Frank Coe, cố vấn kinh tế và tiền tệ của Mao Trạch Đông.
Frank Coe nổi tiếng trong lịch sử vì làm chính phủ Tưởng Giới Thạch điêu đứng về tài chánh, không còn kinh phí buộc phải ngừng truy đuổi đàn quân Cộng Sản yếu ớt của Mao vào lúc bấy giờ để dồn sức đánh Nhật Bản. Nhờ vậy, mà quân của Mao mới sống sót thoát chết và lợi dụng tình hình kháng Nhật để phát triển lực lượng ngày một mạnh hơn.
Không hiểu làm cách nào Frank Coe có thể thuyết phục được tổng thống Rosevelt bỏ ý định viện trợ cho họ Tưởng vay 200 triệu Mỹ kim thời giá 1943 nhưng một lần nữa, ngoài sự kiện Việt Nam Cộng Hòa nhận lãnh số phận bi đát, lịch sử trước đó đã cho thấy người Mỹ gốc Do Thái đã thật sự ảnh hưởng đến đối sách ngoại giao của chính phủ Mỹ rất khéo khiến tàn cuộc của Trung Quốc hòan toàn thay đổi. Sự kiện Hoa Kỳ phản bội Việt Nam Cộng Hòa chỉ là bản sao của sự kiện Frank Coe nhưng ồn ào dễ thấy hơn mà thôi.
Tại sao người Mỹ gốc Do Thái lại quan hệ mật thiết với Trung Cộng? Thậm chí, trở thành ân nhân của Mao như Frank Coe?
Có giả thuyết cho rằng từ lâu, chính phủ Hoa Kỳ đã bí mật giúp đở Cộng Sản bành trướng tại Âu-Á nhằm tạo tình trạng rối loạn mạnh tại các nước thuộc địa hay tại chính các nước đế quốc Âu Châu già nua phải khốn đốn quy ngã. Các nước đế quốc Âu Châu già nua vốn từ lâu kinh khi coi Hoa Kỳ là quốc gia sinh sau đẻ muộn nên không chịu hợp tác với Hoa Kỳ một cách bình đẳng,
Cũng theo giả thuyết này, các nước thuộc điạ nổi loạn đòi độc lập, các nước đế quốc Âu Châu già nua phải khốn đốn quy ngã thì Hoa Kỳ mới có cơ hội can thiệp chính trị khuyếch trương chủ thuyết Mậu Dịch Tự Do của mình – tức là một nền mậu dịch chuyên nghiệp hóa, toàn cầu hóa và không có bị chịu thuế má xuất nhập khẩu một cách quá cao bất công không hợp lý nhằm hạn chế nhập khẩu, vốn được các để quốc Âu Châu già nua bảo thủ đeo đuổi.
Bất luận là giả thuyết này đúng hay sai, riêng đối với tình trạng chính trị tại Trung Hoa, tư bản Do Thái ở Hoa Kỳ thật sự muốn làm chính thể Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch đổ nhào vì họ Tưởng bài Do Thái và không cho người Do Thái có cơ hội khuếch trương tư bản ngân hàng, cho vay nặng lãi cũng như không cho người Do Thái tậu đất đai tại Trung Quốc, khai thác quặng mỏ. Họ Tưởng lại ưu đãi chuyện này cho người Anh, cho người Pháp cũng như hậu đãi thành phần da trắng Anglo-Saxon của Mỹ, vốn bài xích Do Thái thậm tệ lúc bấy giờ.
Đảng Cộng Sản Trung Quốc khởi thủy được thành lập bởi giới trí thức Trung Hoa gốc Do Thái sau cuộc họp ở Thuợng Hải khi liên kết được với người của Trosky, vốn là Do Thái gốc Nga. Ngoài ra, đảng Cộng Sản Trung Quốc ngay từ ngày đầu thành lập đều phải nhờ vào tài chánh cung ứng bởi nhưng người Do Thái sống sứ sở này như Trần Độc Tú chẳng hạn và bởi tư bản Do Thái trên thế giới, trong đó có Rothschild.
Họ Mao tuyên bố lập quốc vào ngày 1 tháng Mười năm 1949, đứng bên cạnh Mao là hai nhân vật Do Thái quan trọng: Solomon Adler, cựu viên chức bộ Ngân Khố Hoa Kỳ và Frank Coe. Cả hai đều là tay chân thân tín của một dòng họ tư bản tài phiệt người Mỹ gốc Do Thái có tên là dòng họ Rothschild, từ lâu hà hơi tiếp sức tài chánh cho Mao.
Rothschild là một dòng họ tài phiệt lầu đời từ cuối thế kỷ thứ 18, có gốc từ Đức, chuyên cho vay nặng lãi và kinh doanh hoạt động ngân hàng. Tài sản của dòng họ này phình to ra nhờ cho các quốc gia mượn tiền làm kinh phí chiến tranh. Khi mượn tiền làm kinh phái cho chiến tranh, dù là thua hay thắng, nước mượn tiền vẫn phải trả nợ cho bọn tư bản tài phiệt vì sau chiến tranh, các nước vẫn cần phải mượn nợ tiếp để phục hồi kinh tế an sinh xã hội nên không thể không trả khoản nợ trước để có thể mượn nợ mới.
Người khai sáng ra tập đoàn tài phiệt Rothschild là Mayer Amschel Rothschild, một người gốc Do Thái sanh tại Frankfurt, Đức vào năm 1744. Có thể nói ông là một thiên tài về ngành tài chánh và gần như có thể coi là cha đẻ của hệ thống ngân hàng đa quốc gia hiện đại. Ở tuổi 19, với đồng vốn nhỏ bé ít ỏi, ông đã nghĩ cách cho giới thương nhân mượn tiền kinh doanh, cho giới quân đội mượn tiền tậu vũ khí hay tân trang quân cụ, cho giới quặng mỏ mượn tiền khai thác, cho giới quí tộc mượn tiền làm chính trị.
Cần cù và chịu khó, ở tuổi 40, Rothschild đã là người mà mọi giới có thể tin cậy nhờ vã khi túng thiếu. Ông đứng đàng sau năm người con của ông để lập ra năm ngân hàng cho dòng họ Rothschild, một ở Đức do người con trai lớn của ông, Amschel Mayer Rothschild điều hành, một ở Anh do người con thứ ba của ông Nathan Mayer Rothschild điều hành, một ở Áo do người con thứ hai của ông là Salomon Mayer Rothschild điều hành, một ở Ý do người con áp út là Calmann Mayer Rothschild điều hành và một ở Pháp do Jakob Mayer Rothschild, người con út của ông điều hành.
Như vậy, Rothschild là người đầu tiên thấy được tầm quan trọng của hoạt động tài chánh trên bình diện toàn cầu đa quốc gia. Các tổ chức tài chánh sau này do Hoa Kỳ và Anh Quốc sáng lập nhằm bình ổn tài chánh toàn cầu để có thể phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo như Ngân Hàng Thế Giới World Bank, Quỹ Tiền tệ Quốc Tế IMF, ngân hàng Phát Triển Á Châu ADB, etc… đều là dựa trên quan điểm tài chánh cấp tiến của Rothschild.
Trong lúc cả Âu Châu đang rối loạn vì giới quí tộc bị sụp đổ do âm huởng của Cách Mạng Tư Sản Pháp 1789, đó là chưa kể hết quốc gia này đến quốc gia khác ngã gục trước gót giày của Napoleon với một đoàn quân coi như bất khả chiến bại. Kinh tế thuơng mại của toàn Âu Châu bị xáo trộn và bất ổn do tính hiếu chiến của Napoleon, Rothschild can đảm đứng ra cho Anh, cho Nga và nhiều quốc gia khác mượn tiền để chỉnh đốn quân đội chống lại. Cuối cùng, ông đã đoán đúng: Nước Anh chiến thắng! Trận Waterloo vào năm 1815 chấm dứt vĩnh viễn binh nghiệp của Napoleon nhưng lại mở màn cho triều đại tài phiệt Rothschild rộng khắp Âu Châu. Nước Anh và nhiều quốc gia khác hoàn trả tiền lời cho tập đoàn Rothschild rất hậu đãi và tiếp tục tin tưởng, mượn nợ tập đoàn này để làm kinh phí đi khai phá thuộc địa.
Sau đệ Nhất thế chiến, tập đoàn tài phiệt Rothschild phạm phải một lỗi lầm nghiêm trọng là nổ lực kinh tài hết mình để phục hồi kinh tế nước Đức trong khi cả xã hội Đức còn đang uất ức vì sự đầu hàng quá kỳ khôi trước Đồng Minh khi sức mạnh quân đội chưa hề thật sự suy giảm. Đời sống của đại đa số người Đức sau thế chiến quá bần cùng trong khi người Do Thái sống rất ung dung xa hoa do giàu có càng làm cho người Đức bất mãn người Do Thái mà không thấy tập đoàn tài phiệt Rothschild đang hết sức cứu vãn kinh tế nước Đức. Adoft Hittler, một mặt dùng tài chánh của tập đoàn tài phiệt Rothschild để khôi phục kỹ nghệ, một mặt lại làm cho người dân Đức nghĩ rằng chính bọn tư bản Do Thái, vì có liên hệ với nước Anh từ nào giờ nên mới đâm sau lưng làm Đức bại trận.
Dòng họ Rothschild tuy yêu tiền nhưng cũng yêu nước Đức nên cho rằng uất ức của xã hội sẽ qua đi khi nước Đức mạnh dần và khôi phục kinh tế. Thực tế, những năm sắp sửa khai chiến đệ Nhị, đời sống người dân Đức bắt đầu hồi phục nhưng do quá sớm nên chưa ai nhìn thấy. Dòng họ Rothschild khuyên Anh Quốc và Đồng Minh hãy ráng nhu hòa, lấy hòa bình để phát triển. Anh Quốc đi đến hết nhượng bộ này đến nhượng bộ khác để rồi một ngày, Hittler nuốt lời gây chiến.
Đức Quốc Xã sát nhập Áo cũng đồng nghĩa với việc tịch thu toàn bộ gia sản của dòng họ Rothschild. Dòng họ Rothschild bỏ trốn qua Hoa Kỳ. Và từ đó, dòng họ Rothschild tìm đủ cách để giúp Hoa Kỳ trở thành mộ siêu cường về tài chánh trên thế giới.
Nhìn về Á Châu, dòng họ Rothschild thấy rõ sự khống chế của các nước già nua Âu châu và cho rằng cần một lực đẩy, một chế độ quân phiệt độc tài đảng trị nhằm xóa sạch mọi ảnh huởng của Âu châu, cũng như xóa sạch nền văn hóa Á đông đức hạnh cũ kỷ để tiến đến một nền văn hóa thuơng mại hàng hóa toàn cầu, chạy theo lợi nhuận. Vì vậy, Mao được dòng họ Rothschild hổ trợ hết mình về tài chánh.
Cách Mạng Văn Hóa và Thời Kỳ Đại Nhảy Vọt mà Mao khởi xướng, gần như phá nát toàn bộ nền văn hóa phong kiến ngàn năm của Á Đông cùng với 60 triệu người bị thảm sát, là làm theo lời cố vấn của Frank Coe, tay chân thân tính của dòng họ Rothschild. Có thể sự ngu xuẩn của Mao trong cuộc cải cách là sự ngu xuẩn cố tình để dọn đường cho tư bản Do Thái Hoa Kỳ quay trở lại Trung Hoa lục địa đầu tư phát triển.
Do đó, mối quan hệ giữa Trung Cộng và người Mỹ gốc Do Thái, không chỉ có mới đây mà thực tế đã giây dưa gắn bó sâu đậm nhưng âm thầm trong suốt hơn nữa thế kỷ qua.
Mối liên hệ giữa Trung Cộng và người Mỹ Gốc Do Thái trên lãnh vực ngân hàng tài chánh kinh tế hiện nay:
Vào ngày 9 tháng Năm năm 2012, lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, ngân hàng của mot chế độ Cộng Sản được quyền tung vốn ra thâu tóm một ngân hàng của Mỹ, trên đất Mỹ. Chuyện này có được là nhờ sự hậu thuẩn hết mình của giám đốc Quỹ Dự Trử Liên Bang, Bernanke. (*)
Dưới quyết định của Bernanke, ngân hàng của Trung Cộng có tên là “Industrial and Commercial Bank of China” (ICBC) với số vốn khoảng trên hai ngàn tỷ Mỹ kim sẽ thâu tóm toàn bộ Bank of East Asia của Mỹ với số vốn khoảng 1,8 ngàn tỷ Mỹ kim có trụ sở chính tại New York, với khoảng ba trăm ngàn nhân viên và 13 chi nhánh trên toàn nước Mỹ.
Không những vậy, Bernanke còn mở cửa để một ngân hàng quốc doanh khác của Trung Cộng có tên là “Agricultural Bank of China” vào mở chi nhánh tại New York.
Đây có thể coi như là một hành động khó như lấp biển vá trời, không dễ thực hiện ở một quốc gia như Hoa Kỳ khi mà luật pháp cấm đoán mọi hình thức hoạt động tài chánh từ Cộng Sản nhưng Bernanke đã làm được cho thấy sự thao túng của cộng đồng Do Thái tại chính trường Mỹ rất mạnh. Quan trọng hơn hết, mọi người bắt đầu cảm thấy mối liên hệ mật thiết về tài chánh giữa cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái đối với Trung Cộng thật sự không phải là huyền thoại nữa mà là một thực tế quá rõ trước mắt.
Năm 2012 cũng là năm mà những căng thẳng tại biển Đông leo thang gần như tí nữa dẫn đến giao tranh khi mà Philippine và Trung Cộng đối đầu trực diện tại vùng biển đảo Hoàng Nhan (Scarborough Shoal) với trên dưới hơn 15 tàu chiến được điều động đến vùng này dẫn đến việc thưa kiện của Phi vào tháng Giêng ngay năm sau; đó là chưa kể hàng loạt các tàu cá của Việt Nam bị húc chìm. Toàn khối Á châu trong đợi vào phản ứng của Hoa Kỳ nhằm cản bớt sự hung hản của Trung Cộng trong vùng dẫn đến các kế hoạch tuần tra biển Đông của Hoa Kỳ những năm sau đó. Ấy vậy mà ngân hàng quốc doanh của Trung Cộng lại ung dung bỏ ra cả ngàn tỷ dollar để mua ngân hàng của Mỹ, hoạt động trên nước Mỹ thì đương nhiên giới lãnh đạo Á Châu lo sợ Trung Cộng hơn là tin tưởng vào nỗ lực can thiệp của Hoa Kỳ.
Tập Cận Bình sở dĩ ung dung thản nhiên hiếu chiến thách thức Hoa Kỳ bấy lâu nay tại biển Đông, cũng như lấn hiếp lân bang một cách trắng trợn cũng là vì đã từ lâu, Trung Cộng duy trì một mối liên hệ tài chánh kinh tế chiến lược vô cùng mật thiết với người Mỹ gốc Do Thái, vốn thiết lập từ thời của Mao kéo dài cho đến nay, giúp cho Trung Cộng tự tin là sẽ không bao giờ bị Hoa Kỳ trừng phạt thẳng tay cho những hành động hiếu chiến vượt khuôn phép của mình. Mối liên hệ này rất chằng chịt, tạm thời tóm lược như sau:
>>>Người Mỹ gốc Do Thái làm môi giới dẫn đường cho mọi hoạt động đầu tư của Trung Cộng lên nước Mỹ (để lấy tiền hoa hồng cho cá nhân và cho cả cho tập đoàn tài phiệt gốc Do Thái)
>>>>Các tập đoàn tư bản tài chánh gốc Do Thái hay có liên hệ đến người Mỹ gốc Do Thái được ưu đãi hoàn toàn khi đầu tư hay cho vay tại lục điạ Trung Hoa.
>>>>Người Mỹ gốc Do Thái đảm bảo sự hậu thuẩn trong chính trường để Trung Cộng luôn thụ huởng thỏa hiệp mậu dịch tốt nhất trong hoàn cảnh cho phép và đổi lại, mọi hoạt động tư bản quốc doanh đầu tư của Trung Cộng đều phải có cố vấn của người Mỹ gốc Do Thái tham dự.
Đứng trên bình diện hai quốc gia Mỹ – Trung, người ta thấy được nền kinh tế hai nước có những chuyển biến như sau thông qua mối liên hệ chiến lược giữa người Mỹ gốc Do Thái và Trung Cộng :
>>>>Tư bản Trung Cộng đổ ồ ạt đầu tư vào Hoa Kỳ, mua hàng loạt các công ty của Hoa Kỳ bằng mọi giá bất chấp nền kinh tế nội địa Trung Cộng đăng suy thoái trầm trọng và cần rất nhiều vốn để kích cầu.
>>>> Tình trạng thâm hụt mậu dich nặng nề của Mỹ đối với Trung Cộng vẫn còn nguyên.
Về mặt tư bản tài chánh, sự quyết tâm mua các tập đoàn tài chánh của Hoa Kỳ của Trung Cộng gây chấn động giới quan sát vì mọi hoạt động tài chánh của Cộng Sản trên nước Mỹ xưa giờ vẫn là điều cấm kỵ. Sau đây là danh sách các tâp đoàn tài chánh của Mỹ bị Trung Cộng mua lại dưới sự dẫn dắt của các nhân vật máu mặt người Mỹ gốc Do Thái như Bernanke chẳng hạn:
>>> Black Stone Group LP – đây là tập đoàn tư bản có trụ sở chính tại New York- chuyên đầu tư địa ốc, tín dụng, nhà máy phân xưởng, năng lượng, tập đoàn bị China Investment Corp của Trung Cộng tung gần 3 tỷ Mỹ kim mua lại 10% cổ phần tháng 5 năm 2007.
>>> Hệ thống thẻ tín dụng Visa – bị China Life Insurance của Trung Cộng mua lại 0.65% cổ phần tháng Ba năm 2008 với giá 300 triệu Mỹ kim.
>>> Tập đoàn tài chánh lừng danh Morgan Stanley – chuyên cho vay và đầu tư địa ốc, có trụ sở chính tại New York, hiện bị China Investment Corp của Trung Cộng nắm khoảng 14% cổ phần với tổng trị giá 6,8 tỷ Mỹ kim.
>>>Bank of East Asia – đã liệt kê ở trên (*)
>>>Đặc biệt là IFC- Internationnal Finance Corp, có trụ sở tại Hoa Thịnh Đốn vốn trực thuộc hay cộng tác với World Bank; nay đã bị Trung Cộng bỏ ra 4,3 tỷ Mỹ kim thâu tóm trên 80% cổ phần. Mất công ty này, Hoa Thịnh Đốn khó có thể điều khiển World Bank dễ dàng theo mong muốn của mình như trước .
Đó là chưa kể nào là khách sạn lừng danh lịch sử Waldorf Astonia New York của Mỹ, hay hệ thống các rạp chiếu phim AMC đều bị lọt vào tay của Trung Công; và tài chánh của Trung Cộng tiếp tục ồ ạt sẽ đổ vào Hoa Kỳ không ngừng nghỉ bất chấp tình hình biển Đông ngày càng leo thang.
Nhận xét:
Thật là kỳ lạ, Trung Cộng ngày một hiếu chiến tại biển Đông dẫn đến căng thẳng quân sự với Hoa Kỳ mỗi lúc mỗi tăng và có thể bùng phát chiến tranh bất cứ lúc nào. Vậy mà tiền từ các công ty quốc doanh của Trung Cộng vẫn ồ ạt thu mua, thâu tóm các công ty của Hoa Kỳ không ngừng nghĩ mỗi năm thông qua các dịch vụ môi giới hay giúp đỡ của người Mỹ gốc Do Thái coi như không có gì xảy ra. Hoa Kỳ cũng là thị trường chủ yếu cho nên kinh tế lấp ráp xuât khẩu của Trung Cộng, hàng năm đem đến hàng trăm tỷ Mỹ kim thâm hụt mậu dịch từ phía Mỹ.
Vậy thì tại sao Trung Cộng lại cứ liều lĩnh hiếu chiến dồn ép Hoa Kỳ phải có phản ứng quân sự thích ứng để trấn an các nước trong vùng?
Đâu có quốc gia nào ngu đến nỗi cố tình hiếu chiến đi đập bể “chén cơm” của mình trừ phi hợp nhau đóng kịch hay biết rõ nước bên kia cũng như nước Tống thuở trước, đã có bọn “Tần Cối” nên cứ hiếu chiến hung hăng mà không cần phải lo. Trường hợp đóng kịch thì không thể xảy ra vì rõ ràng, Trung Cộng cho xây đảo nhân tạo làm căn cứ quân sự tính chuyện chiếm đóng biển Đông lâu dài và bị Phi đem ra kiện tụng trước tòa làm mất mặt trước thế giới. Đóng kịch không thể đi quá xa bị nhục quốc thể như vậy.
Không chừng Trung Cộng của Tập Cận Bình ung dung hiếu chiến tại biển Đông bấy lâu nay là vì biết rõ tàn cuộc cho tranh chấp biển Đông đã có Người Mỹ gốc Do Thái giúp dàn xếp tính trước và sẽ có lợi cho mình. Nếu tranh chấp quân sự thật sự xảy ra giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng tại biển Đông, có khi nào người Mỹ gốc Do Thái sẽ giúp Tập Cận Bình chiến thắng tại biển Đông như cuộc chiến tại Việt Nam trước đây?
© Nguyễn Trọng Dân

CUBA: RAUL PHỤC HẬN FIDEL SAU 50 NĂM

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

22/09/2016
Cuba : Raul phục hận Fidel sau 50 năm ẩn nhẫn chờ thời

Tú Anh

Sau gần nửa thế kỷ chấp hành mệnh lệnh của ông anh Fidel Castro, ngày 31/07/2006, Raul Castro lên làm quyền chủ tịch Cuba. Từ đó, Cuba dần dần biến đổi, cải cách kinh tế và tái lập bang giao với Hoa Kỳ, lật qua trang sử « cách mạng đối đầu » của Fidel Castro đẩy Cuba vào thế cô lập suốt 50 năm. Sơ kết mười năm cầm quyền của Raul Castro.

Tạm thay Fidel Castro bệnh tật vào năm 2006, Raul Castro phải chờ đến năm 2008 mới chính thức lên làm chủ tịch nước. Sau đó, phải đợi đến năm 2011, cha đẻ cách mạng Cuba mới chịu nhường chức vụ cuối cùng « lãnh đạo tối cao » cho người em.

Nhân đại hội đảng Cộng sản Cuba năm đó, một loạt 300 biện pháp cải cách kinh tế, mở cửa cho lãnh vực tư nhân trách nhiệm tự quản lý cho các công ty Nhà nước được thông qua. Nhưng biến cố ngoạn mục nhất là trong lãnh vực ngoại giao. Ngày 17/12/2014, Raul Castro long trọng thông báo tái lập bang giao với Washington. Sau diễn văn, chủ tịch Cuba đưa tay gạt nước mắt, nhưng lập tức ông kiểm soát xúc động, không quay lại nhìn ông anh.

Sau 50 năm tuân lệnh Fidel một cách mù quáng, Raul, mà nhiều người cho là « thiên tài quân sự và tổ chức » đã dứt khóat đứng thẳng trước định mệnh của chính mình. Nhân danh chủ tịch Cuba, Raul vĩnh viễn quay lưng lại với Fidel, vi phạm một điều cấm kỵ của chế độ cộng sản Cuba, đó là dám phạm tội tày trời, hoà giải với « kẻ thù không đội trời chung » Yankee ( Mỹ) , nắm bàn tay của « tên trùm đế quốc số một » Barack Obama.

Vào thời điểm này, tuần báo cánh tả Pháp Người Quan Sát (l’Obs) đặt câu hỏi : Phải chăng « tiểu lãnh tụ » phục hận ?

Résultat de recherche d'images pour "fidel est mort"

Raul, người em nhút nhát, người em có biệt tài « xuyên tường », ở 83 tuổi, đã bẻ gẫy lời nguyền, tự giải phóng để mang lại nụ cười và hy vọng cho một dân tộc mỏi mệt, kiệt quệ vì một chế độ độc tài lố bịch.

Trong suốt nửa thế kỷ, tuy đeo sao trên cổ áo, Raul đóng nhiều vai trò phụ thuộc bên cạnh « tư lệnh tối cao ». Từ sĩ quan thuộc hạ, sĩ quan tùy viên, quản gia, bù nhìn, cầu nối với Matxcơva, giữ con cho ông anh, công tố viên, bình định viên. Lúc nào cũng sẵn sàng, lúc nào cũng sẵn lòng báo che những hành động điên rồ, lố lăng và tội ác của ông anh lãnh tụ …

Thật ra, nếu xem xét kỹ càng cuộc đời chính trị của Raul, người ta sẽ hiểu vì sao ông biết nhẫn nại và thi hành sứ mệnh cho đến hơi thở sau cùng. Sứ mệnh đó là bảo vệ hình ảnh chế độ Castro và quyền lực bằng mọi giá cho đến khi hương tàn khói lạnh.

Vụ án ma túy Arnaldo Ochoa : giết bạn để cứu anh

Một trong những sự kiện, đúng hơn là một vụ án dàn dựng vào năm 1989, truy tố 47 sĩ quan và cán bộ, tử hình bốn người trong đó có tướng Arnaldo Ochoa, đại tá Antonio de la Guardia, thuộc lực lượng đặc biệt, hai cán bộ cao cấp của bộ Tài Chính và bộ Nội Vụ với tội danh « phản quốc ». Bộ trưởng Nội Vụ José Abrante, cũng bị 20 năm tù với tội danh đồng lõa và sau đó bị ám sát trong nhà giam.

Vào năm 1989, Cuba lập một đường dây buôn ma túy với phương tiện là máy bay vận tải, 15 chuyến từ Colombia, đáp thẳng xuống các sân bay quân sự và dân sự Cuba mà « không ai hay biết », kể cả tổng tư lệnh tối cao Fidel Castro, bộ trưởng quốc phòng Raul.

Mục đích của kế hoạch « dịch vụ đặc biệt này » là tìm ngoại tệ đôla. Tuy nhiên, khi quan hệ giữa La Habana và các trùm ma túy Colombia sắp bị Washington tố cáo với quốc tế, Fidel Castro quyết định hy sinh các sĩ quan và cán bộ liên can. Thiếu tướng Arnaldo Ochoa, từng tổ chức nổi dậy ở Venezuela, nhưng thất bại, nguyên là tư lệnh lực lượng viễn chinh Cuba tại Angola, một người hùng của quân đội, cùng với 13 sĩ quan, đa số là khai quốc công thần từ năm 1959, bị kết án nặng nề , kẻ bị xử bắn, người bị giam cầm.

Giết tướng anh hùng

Vụ án này cho thấy Nhà nước Cuba quản lý đường dây ma túy. Tuy nhiên, không một nhà quan sát nào tin rằng một tướng lãnh như Arnaldo Ochoa, đứng đầu đường dây phạm pháp này. « Tòa » cũng không đưa ra được chứng cớ cụ thể.Thế thì tại sao anh em nhà Castro lại giết tướng ?

Vụ này bắt nguồn từ hai nguyên nhân sâu xa. Theo nhà báo Pháp Serge Raffy, (l’Obs 15/04/2015), vào năm 1989, khi Liên Xô của Mikhail Gorbachev đổi mới, Raul Castro khuyên ông anh nên thừa cơ hội cải cách, nương theo lá bài Perestroika mở cửa Cuba cho giới đầu tư Mỹ.

Thế nhưng nhà độc tài vẫn đóng kín trong tâm lý hoang tưởng nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Fidel nghi ngờ đứa em âm mưu đảo chính với sự đồng lõa của tướng Arnaldo Ochoa mới từ chiến thắng Angola (chống lực lượng Nam Phi và đối lập không cộng sản Angola), trở về. Cũng như Raul Castro, tướng Arnaldo Ochoa rất thân với bộ tham mưu quân đội Liên Xô, đa số là tướng lãnh ủng hộ tân tổng bị thư Mikhail Gorbachev và chính sách Perestroika.

Để triệt hạ băng « phản bội », Fidel Castro ra lệnh bắt hết những người bị nghi ngờ theo chủ trương của Gorbachev và kết án họ « buôn ma túy ». Fidel Castro còn thâm hiểm đến mức buộc Raul mặc chiếc áo « chưởng lý » để trong suốt vụ xử dàn dựng đúng theo kịch bản Stalin thời thanh trừng nội bộ.

Raul tuân lệnh nhưng không bao giờ tha thứ cho ông anh đã bắt mình đóng vai trò vu khống, phản bạn và đưa nhiều bạn thân, chiến hữu, đồng chí ra pháp trường.

Raul đã sống những ngày thê thảm, đớn đau trong các phiên toà giả dối này. Chính ông kêu án tử hình người bạn chiến đấu từ thời còn gian khó. Thời khắc kinh khủng nhất là khi Raul đọc bản luận tội Arnaldo Ochoa. Ông dìm xúc động trong cơn say, trấn áp nổi đắng cay và lợm giọng trong men rượu Rhum và Whisky ( Le Monde 11/05/2015 và L’Obs 15/04/2015).

Nguyên nhân thứ hai, hãy nghe Illeana de la Guardia, con gái của đại tá Antonio de la Guardia bị xử bắn cùng với tướng Ochoa, kể lại : Fidel tiếp gia đình các tù nhân, giải thích với chúng tôi vụ xử này chỉ là dàn dựng. Tổ chức các phiên toà là để che mắt Hoa Kỳ vì CIA có bằng chứng chế độ có dính liếu vào đường dây buôn lậu ma túy với các trùm Colombia.

Sau vụ xử, thì tất cả sẽ được tự do. Thật ra, chúng tôi ai cũng biết kẻ chủ mưu buôn ma túy là Fidel Castro và bây giờ thì ông ta tìm cách cứu bộ lông của mình. Fidel lừa dối chúng tôi. Chúng tôi phải chọn con đường lưu vong. Còn Raul, người bạn thân của gia đình, làm sao có thể bình tâm sau một tội ác (giết bạn thân vô tội để cứu anh) như vậy.

Anh em Castro trong mắt giới lãnh đạo Liên Xô

Thái độ của Raoul trong phiên toà dàn dựng, bất bình nhưng không dám chống lại Fidel phải được hiểu như thế nào ?

Nikita Krouchtchev, tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô khi thấy Fidel Castro tịch thu tài sản và quốc hữu hóa các tập đoàn công nghiệp đa quốc gia của Mỹ, đã gọi Fidel là một kẻ ngông cuồng, là « con ngựa điên » không đáng tin cậy. Matxcơva đã chọn Raoul, được trung tá KGB Leonov móc nối từ thời sinh viên, làm điểm tựa để cắm dùi tại hải đảo. Trong mắt Liên Xô, Raoul là một nhân vật « thực tế, sùng bái Stalin tuyệt đối », còn Fidel « khó kiểm soát ».

Giáo sư Jacobo Machover, người Cuba, tác giả quyển sách « Raul et Fidel, la tyranie des frères ennemis », tạm dịch là « Raul và Fidel, chế độ bạo ngược của hai anh em thù nghịch » nói rõ : Raul không phải là chiếc bóng hay thuộc hạ của Fidel. Trong nhiều năm dài chỉ huy quân đội, Raul đóng vai trò « người dọn rác » cho Fidel, thi hành những công tác sắt máu cho ông anh. Đó là hai nhân vật mà cá tính trái ngược nhau. Raul cư xử như một người cha có tình người trong khi Fidel tự cho mình là kẻ « giác ngộ cách mạng vị kỷ » ngay con ruột cũng không quan tâm.

Người cha có tình cảm này, sau một loạt vố đau, và từ khi chính thức lãnh đạo quốc gia vào năm 2008, đã quyết định tiến hành hoài bão manh nha chuẩn bị từ thập niên 1980 nhưng bị Fidel giết từ trong trứng nước qua vụ án Arnaldo Ochoa.

Để thực hiện kế hoạch bí mật này mà kết quả đầu tiên được thế giới biết đến là cú « bắt tay » ngoạn mục, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng với Mỹ 7 năm sau đó, « người dọn rác » của Fidel đã nhanh chóng « quét sạch » tay chân của ông anh : Cải tổ nội các, loại trừ những nhân vật có thể kế nghiệp, đặt người thân tín vào Bộ chính trị đảng Cộng sản, bổ nhiệm người thân vào các chức vụ quan trọng.

Đưa tướng Julio Casas Regueiro, 80 tuổi, và con rể là đại tá Luis Alberto Rodriguez làm phó, đứng đầu tập đoàn doanh nghiệp quân đội Geasa, độc quyền quản lý một cách 80% lãnh vực kinh tế trọng yếu từ vũ khí, xăng dầu, khách sạn, nhà hàng, xuất nhập cảng, viễn thông, phi trường, hải cảng, xây dựng…. Con gà đẻ trứng vàng đáp ứng nhu cầu mở cửa kinh tế.

Khi tướng Julio Casas Regueiro qua đời, Luis Alberto Rodriguez chính thức lên thay và được bố vợ thăng cấp tướng, bất chấp những dị nghị. Chưa hết, ngành an ninh tình báo, lá chắn bảo vệ chế độ và an nguy của Raul nằm trong tay đại tá Alejandro Castro, không ai khác hơn là con trai của Raul.

Raul tham khảo rất kỹ hồ sơ mật, báo cáo mật về tâm tư, suy nghĩ dự án của thành phần cán bộ, sĩ quan cốt cán của chế độ và hiểu rằng chuyện sinh tử của gia đình Castro là làm cách nào để cứu sống toàn gia khi bị dân chúng đòi xét công luận tội. Raul nhất định không để xảy tới ngày này sau khi ông anh « Râu Xồm », biệt danh của Fidel, từ giã cõi đời.

Hiểu rõ não trạng người dân Cuba, Raul không tin vào « Mùa Xuân Cuba » theo mô hình các nước Ả Rập. Theo ông, dân Cuba, nhất là thế hệ trẻ khát khao lối sống và văn hóa Mỹ. Sau nửa thế kỷ bị trói buộc, thanh niên Cuba không quan tâm đến chính trị, họ bất cần ký ức và chỉ lo « xoay sở » sao cho có cái ăn nhét vào bụng mỗi ngày. Nếu có nổi dậy thì cũng vì cái dạ dày. (l’Obs 15/01/2015).

Cho dân ăn no để tránh nổi dậy …

Do vậy, nổi ám ảnh ông Raul Castro là nuôi dân để tránh biển máu. Đáp án của ông là phải đổi mới kinh tế, mà muốn đổi mới kinh tế thì phải giải tỏa cấm vận. Mà muốn cấm vận được giải tỏa thì phải hoà giải với kẻ thù.

Thế là Raul bổ nhiệm hai chuyên gia kinh tế trẻ không có thẻ đảng vào Hội đồng Nhà nước. Omar Everleny và Pavel Vidal có trọng trách lập kế hoạch dự báo kinh tế Cuba trong 10 năm tới. Theo hai nhà kinh tế Cuba này thì tương lai Cuba không tùy thuộc một cường quốc xa xôi nào, ám chỉ Nga và Trung Quốc, mà tùy thuộc vào nam Mỹ và bắc Mỹ nhất là Brasil và… Hoa Kỳ.

Tháng 7/2007, một năm sau khi Fidel Castro nằm bệnh viện, Raul Castro đọc một bài diễn văn gây chấn động : « phải cải cách tận gốc rễ từ cấu trúc cho đến học thuyết kinh tế. Hoặc chúng ta đổi mới, hoặc sẽ bị tụt hậu » (Orectificamos, o nos hundimos). Thực ra, theo giới quan sát, Raul chỉ muốn cho dân đủ ăn mà thôi để họ đừng làm loạn.

Cho Fidel đi vào quên lãng …

Với đầu óc thực tế, không như ông anh Fidel, Raul thấy rõ là chế độ La Habana sống còn là nhờ Venezuela. Hai nhà « cách mạng hoang tưởng » Fidel Castro và Hugo Chavez không bao giờ quan tâm đến kinh tế và đời sống của dân chúng. Được Caracas mỗi ngày cho không từ 80.000 đến 100.000 thùng dầu, La Habana bán lại một phần cho thị trường quốc tế thu vào một số ngoại tệ đủ để cầm hơi xây dựng Xã hội Chủ nghĩa.

Cái chết của tổng thống Hugo Chavez và cuộc khủng hoảng kinh tế, lương thực, chính trị làm rung chuyển Venezuela cho thấy Raul sáng suốt, phải đổi mới. Tiến trình bình thường hóa bang giao với Mỹ, do vậy, được tăng tốc.

Rút kinh nghiệm thất bại đắng cay trong việc khuyến khích ông anh chủ tịch bắt chước Mikhail Gorbachev, Raul âm thầm thương lượng với nước Mỹ của Barack Obama từ năm 2013. Fidel hoàn toàn không hay biết gì về 9 cuộc gặp gỡ bí mật ở Canada và ở Vatican qua sự giúp đỡ của Giáo Hội Công Giáo Cuba và Toà Thánh.

« Thằng em nhỏ », sau 50 năm nhẫn nhịn chờ thời, đã « giết chết thằng anh lớn hơn 5 tuổi » ( L’Express 02/01/2015). Từ thuở thiếu thời cho đến tuổi 83, Raul mới thật sự thoát khỏi bóng phủ của Fidel, cho dù trong thời cách mạng, Raul mới là bộ não chính trị và quân sự. Fidel chỉ đóng vai người hùng « trừ gian diệt bạo » trước ống kính của truyền hình quốc tế.

Điều trớ trêu là vào ngày 17/12/2015, khi Washington và La Habana long trọng thông báo lật qua trang sử hận thù trước sự chứng kiến của hàng tỷ khán giả truyền hình thế giới thì Fidel Castro vắng mặt. Sức khỏe suy nhược, ở tuổi 88, Fidel đã vĩnh viễn bị loại khỏi đấu trường chính trị.

… Và hoa giải dân tộc để tránh biển máu

Tương lai của đảng Cộng sản Cuba và của 93% dân chúng không là đảng viên giờ đây tùy thuộc vào quân đội, yếu tố bảo vệ « ổn định » như các nước chậm tiến châu Phi.

Báo mạng Mediapart nhân bầu cử Quốc Hội Cuba năm 2013 đã nhận định : Một khi Raul qua đời, quân đội có thể phải lên nắm quyền, ít nhất là trong giai đoạn đầu, để những hận thù kềm chế trong suốt 50 Fidel cầm quyền không dẫn đến « bạo loạn và biển máu ».

« Biển máu » là một trong số những ưu tư ám ảnh Toà Thánh Vatican qua một số điện thư mà Wikileak đã tiết lộ. Cũng vì thế mà Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ cũng như Giáo Hội Cuba đã giúp Cuba trong tiến trình « hòa giải dân tộc và hoà giải với Hoa Kỳ » (Mediapart 05/02/2013).

JUANITA CASTRO, SOEUR ENNEMIE

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Có lẻ những cái đầu DLV ngu muội u mê không hề biết rằng Fidel và Raul có một người em gái ruột, Bà Juanita Castro, năm 1964 đã đào thoát, tị nạn cộng sản trên đất Mỹ. 

Năm 2009 Bà viết sách về hai (thằng) anh của mình. Dĩ nhiên bộ mặt của hai tên này chẳng tốt đẹp gì hơn Lenin,Stalin, Dimitrov, Husak, Ceausecu, cha con Kim, hay Mao hay Hồ…
Tuy nhiên, ngoài những điểm tương đồng ghê tởm của những nhà độc tài cộng sản thì tui thấy Phi Đen được vài điểm “tốt hơn”:
– tượng đài không nhiều.
– đến lúc chết thì dân Cu Ba không bị lùa lên đồng tập thể (rất phản cảm)
– tang lễ sẽ bớt tốn kém và xác được hỏa thiêu (tránh làm thú nhồi)
Xin mời quý bà con đóng góp nếu phát hiện thêm điều hay.
(Minh hoạ: Các đồng chí rủ nhau đi ăn mày )

JUANITA CASTRO, Cuba. Sœur ennemie
AMÉRIQUES
CUBA
EL NUEVO HERALD – MIAMI
Publié le 04/11/2009 – 16:41


Juanita Castro, 76 ans, est la sœur des dirigeants cubains Fidel et Raúl Castro. Depuis Miami, où elle s’est exilée en 1964, elle vient de publier ses mémoires, qui révèlent comment elle s’est rebellée contre la révolution marxiste de ses frères et a collaboré avec la CIA. L’ouvrage remporte un énorme succès en Espagne, aux Etats-Unis et en Amérique latine.

Fidel et Juanita ne se sont plus parlé depuis qu’elle a quitté Cuba, le 19 juin 1964. A l’époque, la jeune femme était harcelée par la surveillance policière et les menaces de répression contre ses activités subversives. Mais le contact n’est pas tout à fait coupé avec Cuba. Enma, 74 ans, considérée comme la sœur préférée du Líder Máximo, se rend régulièrement dans l’île et donne des nouvelles à Juanita, à Miami.
Une semaine après la sortie de ses mé­moires, dans lesquels elle avoue avoir travaillé pour la CIA de 1961 à 1969, Juanita Castro affiche la sérénité et l’aplomb qui ont marqué tous les grands moments de sa vie. Le livre, intitulé Fidel y Raúl, mis Hermanos. La historia secreta [Fidel et Raúl, mes frères. L’histoire secrète], écrit en collaboration avec la journaliste mexicaine María Antonieta Collins, est sorti simultanément aux Etats-Unis, en Espagne et dans plusieurs capitales latino-américaines. Le récit publié par les éditions Santillana est déjà un gigantesque succès.

Malgré la popularité du livre, ces derniers temps ont été très difficiles pour Juanita. Ses confessions ont ravivé de vieilles accusations et les fantômes du passé, et elles suscitent même des protestations publiques de l’organisation [cubaine radicale] Vigilia Mambisa, qui, le jeudi 29 octobre, a détruit des couvertures de l’ouvrage devant le consulat d’Espagne à Miami.
“J’étais prête à affronter cette avalanche d’infamies et d’insultes qui me poursuit depuis mon arrivée en exil, explique Juanita Castro. J’ai senti que je devais défendre l’honneur de mes parents, qui a été foulé au pied de façon scandaleuse par des diffamateurs s’exprimant sur les radios locales, sans la moindre preuve, juste par haine de Fidel.” A 76 ans, Juanita dit avoir la conscience tranquille, car elle a fait face au régime communiste de l’intérieur et mis sa vie en danger pour protéger et cacher, à son domicile même, des opposants persécutés dans l’île.

“La plupart de ceux qui critiquent et calomnient ne se sentent même pas concernés aujourd’hui par une transition démocratique à Cuba”, réprouve-t-elle.

Son travail avec la CIA de 1961 à 1964 ? Une collaboration brutalement interrompue lorsque deux agents de Washington lui signifièrent qu’il était nécessaire d’infléchir son discours anticommuniste pour favoriser la politique de coexistence pacifique avec Moscou voulue par le président américain Richard Nixon. “Le travail avec la CIA s’est révélé du temps perdu”, raconte Juanita, qui a demandé la nationalité américaine en 1982. “Mais je dois reconnaître que les Etats-Unis ont été le seul pays à nous aider véritablement, nous les Cubains, quand les portes se fermaient presque partout ailleurs.”

Concernant la famille Castro Ruz, la sœur de Fidel assure qu’elle ne retournera à Cuba pour aucune urgence familiale. Et pourtant, Fidel n’est pas le seul membre malade et âgé de la fratrie [qui compte sept frères et sœurs]. “J’aimerais pouvoir y aller, mais dans un contexte différent de celui que j’ai laissé il y a quarante-cinq ans, précise-t-elle. Aujourd’hui, même si l’occasion m’en était offerte, je la refuserais.”

Par l’intermédiaire d’Enma, qui vit au Mexique avec son mari depuis 1960, Juanita reçoit des nouvelles de première main de ses cinq autres frères et sœurs restés à Cuba. Et Juanita parle avec fierté de ses échanges et de ses relations avec les jeunes générations de la famille Castro, des enfants et petits-enfants ayant quitté Cuba en quête d’un avenir meilleur et désireux de décider eux-mêmes de leur destin. Ils sont au moins onze descendants de la fratrie à vivre en Espagne et aux Etats-Unis.

“Nous devons parler de réconciliation des Cubains et de transition démocratique à Cuba, et c’est Raúl Castro qui a entre les mains le pouvoir de lancer ce processus de réforme dans le pays, estime Juanita. Le peuple cubain, dans l’île, doit être le moteur de ce changement, avec notre soutien à nous, les exilés. La voie de la lutte armée appartient au passé depuis longtemps, et il nous faut trouver une issue pacifique pour en finir avec ce périple long de cinquante ans. Il nous faut reconnaître que nous sommes aujourd’hui au point mort de notre histoire.”

Wilfredo Cancio Isla

TIN NGẮN NGỦN: THẰNG BA RỤNG CU

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn
TIN NGẮN NGỦN: Dân Cu đã mất Ba hay thằng Ba đã rụng Cu ?
Chúc mừng đôi đao phủ Hồ – Phi trùng phùng ở âm ty, tui bèn góp vội vài câu:
Bác có râu, anh cũng có râu
Hai đứa cùng mê chuyện giết nhau
Bác đưa nước Việt vào nô lệ
Anh dẫn dân Cu đến thảm sầu.
-Bút Che Kỳ Cục-

 

LÙM XÙM TIỀN TRÊN MẠNG

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

TIỀN

Chỉ giấy vẽ vời nét láo liên
Xanh vàng tím đỏ, số định riêng
Đạo đức tạo bằng thân mai mảnh
Công danh đong bởi mớ vuông điền
Rỗng bụng trăm thằng khôn hoá dại
Đầy mồm một lũ quỷ thành tiên.
Tiên sư đời đẻ chi thằng bạc
Thiên hạ ghè nhau đến phát phiền.

-Bút Che Kỳ Cục-

Bạn hữu “Thằng Khiêng Kiệu” họa lại:

SAO KÊ
Thói đời soi mói bởi tờ liên…
Huynh đệ om sòm lắm nỗi riêng
Thủ lỉnh dân oan sầu bãi bể
Văn nhân bá tánh nộ tang điền
Trắng đen khéo vẽ chồn lên thánh
Xanh đỏ nhờ tô cáo hóa tiên
Bút chiến tương tàn trên giấy bạc
Khiến cho ông Định cũng ưu phiền

  • Anh dùng từ : láo liên, chi mà ác vậy, nó gieo trúng cái tử vận rùi…rất cảm mến và phục tài thi họa của anh. Ô.Lê Công Định em đem vào cho nó thời sự một tí đó anh, chúc anh chị luôn khỏe và hạnh phúc nha, kính !