CHIẾC ĐŨA CỦA TỬ THẦN (phần cuối)

Standard

Đặng Vũ Thanh Nguyên


Phần cuối : Chữ hiếu tội lỗi

Roger vừa dứt lời thì xe đã ngừng ngay trước Sở lưu trữ danh bạ. Tôi ra lệnh:
– Charlie, hãy dẫn chúng tôi đến ngay ban quản lý danh bạ.

Đứng trước cánh cửa ghi hàng chữ “Ban quản lý danh bạ dân số”. Charlie gõ cửa và nghiêm giọng:
– Cảnh sát tư pháp !

Cô quản lý ngạc nhiên khi thấy trước mặt cô là các nhân viên cảnh sát tư pháp, cô chưa kịp nói thì Charlie trình thẻ công vụ ra và với một giọng nói rất lạnh lùng:
– Chúng tôi cần danh sách tất cả những người sinh ngày 24 tháng 06 năm 19xy…

Cô quản lý danh bạ dân số liền dẫn chúng tôi đến một căn phòng nằm gần cuối kho tư liệu. Cô mang ra cho chúng tôi một chồng hồ sơ của những người sinh năm 19xy. Sau đó, cô soạn riêng một xấp hồ sơ của những người sinh ngày 24 tháng 06 năm 19xy. Cô định cầm lấy hồ sơ giao cho chúng tôi thì tôi chặn tay cô lại và nói với Charlie:
– Phiền Charlie gói tập hồ sơ này cẩn thận, anh giao cho phòng kỹ thuật tìm dấu vân tay trên bìa cũng như trên từng trang giấy trước khi mở hồ sơ. Cám ơn anh.

Charlie:
– Vâng Sếp.

Dứt lời, tôi hỏi cô quản lý:
– Theo cô biết thì có bao nhiêu người có thẩm quyền tham khảo các hồ sơ này ?

Cô nói không suy nghĩ:
– Chỉ có một người duy nhất là ông quản thủ hồ sơ.

Tôi hỏi:
– Thế trách nhiệm của cô ở nơi này ?

Cô trả lời:
– Tôi chỉ có trách nhiệm chuyển hồ sơ mới cho ông quản thủ sau khi đã nhập hồ sơ vào máy tính.

Tôi hỏi thêm :
– Thế người quản thủ có mặt ở đây không, thưa cô ?

Cô đáp:
– Có.

Tôi tiếp tục điều tra :
– Anh ta như thế nào ? Bao nhiêu tuổi ?

- Anh ta người gốc Châu Á, khoảng 40 tuổi ! Cô nói.

Roger nhìn tôi xong anh đề nghị :
– Phiền cô hãy dẫn chúng tôi đến gặp người đó.

Cô gái dẫn chúng tôi qua một dãy hàng lang dài và hơi tối. Đến trước cửa một văn phòng, cô ta gõ cửa, cất tiếng gọi :
– Johan, có người muốn gặp anh.

Cánh cửa mở ra, trước mặt tôi là một người đàn ông gốc Á, nước da ngâm, cao khoảng 1m75 , trông khỏe mạnh. Chau mày vài giây để trao đổi suy nghĩ qua ánh mắt với Roger, tôi quay sang người quản thủ hỏi thăm :
– Chào anh, anh khỏe chứ ? Những ngày gần đây, có ai đến gặp anh để tham khảo tài liệu danh bạ dân số không ?

Người quản thủ điềm đạm trả lời :
– Thưa ông không, có chuyện chi không ạ ?

Tôi đáp :
– Không có chi cả, tôi chỉ muốn nhờ ông theo dõi dùm nếu như bất ngờ có ai muốn tham khảo hồ sơ thì anh hãy báo cho chúng tôi biết ngay.

Nói xong, tôi chào tạm biệt ngay. Cả bốn chúng tôi cùng rời khỏi khu hàng lang. Trên đường ra, tôi hỏi cô gái :
– Anh ta là người nguyên quán ở đâu ?

Cô quản lý kể :
– Theo tôi được biết thì anh ta là người gốc Nam dương, bố đẻ của anh ta thuộc đoàn quân hộ tống nữ hoàng Hòa Lan về nước sau đại chiến thứ II. Sau đó, bố đẻ của anh được ở lại định cư ở Hòa Lan, ông ta cưới một người vợ Hòa Lan và sinh ra anh ta.

- Cám ơn cô rất nhiều. Chúc cô một ngày vui vẻ. Dứt lời, tôi và các đồng nghiệp lên xe về thẳng cơ quan.

Trên đường về, Roger nói vào khoảng không :
– Chắc là anh cũng nghĩ như tôi !

Tôi trầm ngâm :
– Vâng, thủ phạm phải có cái gì đó liên quan đến ngày 24 tháng 06 năm 19xy.

- Điên thật, Roger nói với giọng bực bội.

- Vâng đúng là một vụ án điên rồ, tôi đáp.
Ngày hôm sau, vào cơ quan. Người đầu tiên mà tôi tìm gặp là Charlie. Tôi hỏi :
– Anh có kết quả gì chưa ?

- Liên quan đến các dấu tay thì đã có, Charlie nói, ngừng một lát, anh tiếp. Chỉ toàn đúng một mẫu dấu vân tay. Tất cả, đều đã được kiểm chứng. Chiều hôm qua, tôi cẩn thận quay trở lại văn phòng để lấy dấu tay của người quản thủ lúc 17 giờ 30 phút khi mọi người đã ra về. Dấu tay rõ nét nhất là dấu tay trên ly nước của anh ta. Tuy nhiên, chúng ta không có chứng cứ gì để buộc tội anh ta cả. Vì là quản thủ, anh ta có quyền tham khảo hồ sơ. Ngoài ra, anh ta sinh khác ngày với các nạn nhân và anh ta chỉ mới có 39 tuổi.

Tôi tán thành với Charlie :
– Hợp lý, vậy anh đã có danh sách của những người cư dân của thành phố này sinh vào ngày 24 tháng 06 năm 19xy không ?

- Thưa có, Charlie vừa nói vừa đưa cho tôi bản danh sách. Đây là bản photocopy được in từ bản gốc. Tôi nhân ra làm sáu bản để các đồng nghiệp khác cùng nghiên cứu. Bên cạnh mỗi cái tên, tôi cũng có ghi chú ngày, tháng, năm sinh, nghề nghiệp, địa chỉ, số phone của từng người.

Ngừng một lát, Charlie tiếp tục :
– Trong danh sách 22 người, tôi đã loại ra 4 người vừa bị giết hại. Tôi cũng đã xóa 7 người đã về hưu hiện đang cư trú ở các quốc gia láng giềng như Tây ban Nha, Áo, Lục xâm Bảo v.v… Tôi cũng gạt ra khỏi danh sách 2 người Ý đã hồi hương sau khi về hưu. Còn 8 người thì 3 người đã chết cách đây hơn 10 năm do bệnh hoạn, do tai nạn. Danh sách chỉ còn lại 6 người. Sáu người còn lại nằm ở trang thứ ba. Tôi chờ chỉ thị, phân công của Sếp trước khi hành động.

Tôi cầm danh sách sáu người còn lại để đọc. Tôi lướt mắt từ trên xuống dưới, danh sách có tất cả năm người đàn ông, một phụ nữ. Tôi dừng lại ở cái tên của người đàn bà sinh ngày 24 tháng 06 năm 19xy. Tôi hỏi Charlie :
– Anh có thông tin gì về người đàn bà này không ?

- Có, thưa Sếp, bà ta hiện đang được điều trị ở bệnh viện đại học y khoa thành phố. Bà đang trong giai đoạn cuối của bệnh ung thư…

Tôi sốt ruột :
– Không, tôi muốn hỏi anh về gia thế của bà này. Bà có chồng con gì không ? Ngoài cái tên thời con gái của bà, anh có thêm thông tin gì về chồng của bà không ?

Charlie :
– Tôi hiểu ý Sếp, tôi cũng đang chờ thông tin này từ bên bộ xã hội và hưu trí của Hòa Lan…

Đưa tay chặn lời của Charlie, quay sang Roger tôi gật đầu ra hiệu, Roger hiểu ý đứng dậy. Bằng một giọng cương quyết tôi nói với Charlie :
– Chúng ta đi thôi, anh đi chung xe với Sylvie và nhớ gọi thêm bốn cảnh sát viên theo cùng chúng ta nhé.

Trên đường đi, Roger hỏi tôi :
– Anh nghi ngờ ?

- Không, tôi không còn nghi ngờ nữa mà tôi đã thấy rõ đầu mối của vụ án, tôi trả lời.

 

Sau khi đậu xe gọn gàng trước bệnh viện, chúng tôi đến thẳng văn phòng tiếp tân. Tôi ra hiệu cho Sylvie vào hỏi số phòng, khu điều trị của người đàn bà cần gặp. Sau khi có số phòng, tôi dặn dò nhân viên tiếp tân :
– Tuyệt đối không ai được quyền biết sự có mặt của chúng tôi cho đến khi bà thấy chúng tôi trở ra. Rõ ?

Nhân viên tiếp tân :
– Vâng.

- Cám ơn sự cộng tác của bà.

Đến nơi, tôi phân công hai người cảnh sát mỗi người đứng ở một đầu hàng lang của khu điều dưỡng. Lệnh cho Charlie xuống đứng canh ở ngoài cổng bện viện phòng khi kẻ tình nghi đến thăm người đàn bà, bởi vì chỉ có Charlie là người đã thấy mặt kẻ tình nghi.

Còn lại tôi, Sylvie và Roger vào phòng của người đàn bà dưới sự hướng dẫn của một y tá.

Trước mặt chúng tôi là một người đàn bà gầy guộc nằm lọt thõm trong chiếc giường bệnh. Chung quanh giường đầy máy móc y tế.Tay chân bà chằng chịt ống, kim. Ngồi xuống bên cạnh bà, tôi nhẹ nhàng hỏi thăm :
– Chào bà Karel, bà thấy trong người như thế nào ?

Chậm chạp quay đầu về phía chúng tôi, bà Karel nói bằng một giọng yếu ớt :
– Cũng tàm tạm thôi bác sĩ ạ.

Để giải vây cho tôi, bác sĩ Roger hỏi :
– Bà có thấy trong người đỡ hơn chút nào không ?

Karel:
– Cũng vậy thôi bác sĩ ạ, vẫn mệt và đau lắm.

- Vâng… Roger tỏ ra thông cảm. Vậy bà có muốn chúng tôi liên lạc với chồng con của bà để họ đến thăm bà thường xuyên không ?

- Chồng tôi chắc là sẽ không tới được đâu vì ông ấy đã quay về Nam Dương từ rất lâu rồi. Còn con trai của tôi, nó vẫn thường xuyên đến thăm tôi sau giờ làm việc đấy, Karel nói một cách khó khăn.

Tôi lẳng lặng đặt tay lên vai Roger tỏ ý nhờ Roger ở nán thêm và ra hiệu cho Sylvie đi theo. Ra ngoài hành lang, tôi dặn hai người cảnh sát tiếp tục ở lại với công việc canh gác.

Sylvie và tôi xuống bãi đậu xe. Khi gặp Charlie, tôi ra lệnh :
– Anh trở lên phòng bệnh của bà Karel, tìm chỗ kín đáo ẩn mình với hai cảnh sát viên trên đó, nếu “hắn” tới là anh chụp ngay cho tôi.

Quay sang hai người cảnh sát còn lại, tôi nói:
– Các anh đi theo tôi đến Sở lưu trữ danh bạ thành phố. Dọc đường các anh gọi thêm một xe tăng viện.

- Vâng Sếp, một trong hai người cảnh sát trả lời.

Tôi nói:
– Cám ơn anh, chúng ta đi thôi. Sylvie cô cầm lái nhé.

 

Cô quản lý mở cửa đón chúng tôi. Lần này ngoài vẻ bất ngờ, cô tỏ ra hoảng hốt vì trông thấy ngoài chúng tôi ra còn có thêm các nhân viên cảnh sát đồng phục gọn gàng. Tôi hỏi :
– Anh ta có ở đây không ?

Cô quản lý trả lời bằng giọng run run :
– Dạ có, anh ta đang ở trong phòng làm việc.

Để trấn an cô ta, Sylvie nói :
– Không có chi đâu, chị có thể lánh mặt đi nơi khác nhưng tuyệt đối không được cho bất kỳ một ai biết sự có mặt của chúng tôi. Bây giờ chị có thể rút lui.
Đợi người phụ nữ ra khỏi phòng, Sylvie khóa cửa lại và trao chìa khóa cho tôi. Chúng tôi không để mất thêm một giây phút nào, cùng nhanh chóng chạy đến thẳng văn phòng của người quản thủ.

Baguette5

Thấy chúng tôi, hắn ta bật đứng dậy định bỏ chạy nhưng đã bị hai cảnh sát viên lực lưỡng đứng chặn. Biết không còn đường thoát, hắn nói :

- Không ngờ các ông lại phát hiện nhanh như vậy…. Các ông hãy nói với mẹ của tôi là « tôi rất yêu bà ».
Vừa dứt lời, hắn đã nhảy qua cửa sổ ngay sau lưng khiến chúng tôi trở tay không kịp. Chúng tôi đều chạy nhanh xuống sân bãi đậu xe. Thi thể của hắn nằm bất động. Tôi lục trong túi áo của hắn, một lúc sau tôi lấy ra một tờ giấy khổ A4 có ghi tên họ, địa chỉ của một số người.

Tất cả đều sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm.

Trên một góc kín trong văn phòng của hắn cảnh sát tư pháp phát hiện 12 chiếc đũa đã được mài sẵn. Mỗi chiếc đũa được dấu trong một quyển sách.

Một luồng điện chạy dọc sống lưng lên óc…

Liệu sinh mạng của bốn người bị hắn giết hại có giúp kéo dài tuổi thọ của người mẹ đang bệnh nan y mà hắn hết mực yêu thương, thêm chút thời gian nào hay không ? Dù chỉ là bốn năm…

 

(Hết)

CHIẾC ĐŨA CỦA TỬ THẦN (tiếp theo)

Standard

Đặng Vũ Thanh Nguyên

 

Phần 3 : Xác chết trong công viên

18 giờ 27 phút, tôi nhận được cú phone khẩn cấp của Sylvie, cô nói :
– Sếp, ông có thể đến ngay công viên 2 của thành phố, góc đường A11 và A12 được không ? Chúng tôi vừa được cảnh sát thành phố báo là họ phát hiện một tử thi mới… nạn nhân cũng bị hạ sát giống như hai trường hợp đã xảy ra.

Tôi vất đũa, bỏ giở bữa ăn, khoác vội áo ngoài, nổ máy xe chạy với đèn chớp xanh trên mui, chờ xe ra đã xa khỏi khu phố tôi đang cư trú, lúc bấy giờ tôi mới mở còi xe. Mất 21 phút tôi mới đến nơi xảy ra án mạng.

Sylvie, Charlie đã đợi sẵn tôi tại hiện trường. Sylvie nói :
– Nạn nhân là một phụ nữ trạc … trên 60 tuổi…

Tôi ngắt lời Sylvie :
– Sao lại « trạc » và « trên » 60 tuổi ?

Sylvie :
– Vì nạn nhân không có giấy tờ tùy thân, tôi đã nhờ cảnh sát thành phố phong tỏa khu vực, đồng thời nhờ họ lục soát khắp mọi nơi, kể cả các thùng rác công cộng để tìm kiếm giấy tờ của nạn nhân.

- Cám ơn cô, tôi không hy vọng chúng ta sẽ tìm thấy các giấy tờ của nạn nhân. Tốt nhất là Charlie hay cô hãy cho lấy vân tay, chụp hình nạn nhân gửi về phòng tư liệu để tìm, kết quả có thể nhanh hơn, tôi nói.

- OK Sếp, dứt lời, Charlie quay lưng bỏ đi làm nhiệm vụ.

Đứng trước tử thi, tôi cũng đồng ý là nạn nhân cũng « trạc … trên 60 tuổi » như nhận xét của Sylvie. Trên ngực nạn nhân vẫn còn lộ ra đuôi đũa khoảng 10 cm. Vết máu đã khô, vẫn còn màu đỏ đậm, bàn tay phải nắm chặt ngửa lên trời. Bàn tay trái ngón trỏ, ngón áp út vẫn kẹp chặt chuôi đũa. Một chỉ máu đã khô bám chặt lòng bàn tay trái. Ngồi xuống bên bác sĩ pháp y, tôi nói :
– Chào bác sĩ, theo ông, án mạng xảy ra khoảng bao lâu ?

- Khoảng hơn 2 tiếng, dưới 3 tiếng. Bác sĩ pháp y trả lời.

Ngừng một lát, ông tiếp :

Baguette3

- Nạn nhân chết ngay tức khắc, hung khí đâm rất chuẩn, đúng ngay giữa tim làm không khí lùa vào các lỗ hổng. Khiến máu đông đặc ngay lập tức. Nếu ông để ý đến đôi mắt của nạn nhân, ông sẽ thấy nạn nhân vẫn còn bất ngờ trước cái chết.

Dùng đầu của cây bút bi lấy từ trong túi áo của tôi, tôi chỉ cho Roger, bác sĩ pháp y bàn tay phải nắm chặt của nạn nhân. Cùng lúc, tôi vẫy tay ra hiệu cho Sylvie, khi cô ta đến nới, tôi nói :
– Cô có thể dùng bao ny-lông để bọc bàn tay phải lại giùm tôi không ? Cố nhớ ghi chú « chỉ được mở trong phòng khám nghiệm của ban khoa học hình sự ». Cám ơn cô.

Sáng hôm sau, 08 giờ 05 phút, vào cơ quan, tôi nhận được bản so sánh tương đồng, khác biệt giữa Lugi và Hans. Tôi hẹn mọi người xuống phòng họp đúng 08 giờ 15 phút.

08 giờ 17 phút, Charlie nói :
– Tôi đã cho in sáu bản cho sáu người chúng ta. Tuy nhiên, có một bất ngờ mới, đó là Hans trước khi về hưu có mua một căn nhà ở khu chung cư Sart. Ông ta vừa đăng ký hộ tịch của thành phố này cách đây khoảng một tháng. Điều này cũng dễ hiểu vì đất nước của chúng ta vật giá rẻ, giá nhà đất thấp hơn ở Hòa Lan. Như vậy là Lugi, Hans và kể cả nạn nhân mới chết đêm qua đều là dân thường trú của thành phố…

Charlie chưa dứt lời thì có tiếng gõ cửa. Tôi nói to :
– Xin mời vào.

Khách không ai khác hơn là Roger. Chào mọi người xong, Roger quay sang tôi:
– Thanh tra Đặng, ông rất tinh ý, trong bàn tay nắm lại của nạn nhân là vài sợi chỉ bằng dạ màu nâu. Hoàn toàn khác với chất liệu áo dạ của nạn nhân. Đây là bản báo cáo chi tiết. Xin phép chào tạm biệt các bạn, tôi trở về công việc thường nhật.

Roger vừa dứt lời, tôi thăm dò:
– Nếu anh không có việc gì khẩn cấp, tôi xin mời anh nán lại một lúc, vì cá nhân tôi rất cần sự góp ý của anh.

Suy nghĩ một chút, nhìn đông hồ xong, Roger quyết định :
– Tôi chỉ có thể ngồi lại với các bạn khoảng 30 phút.

- Quá tốt, tôi nói.

Sau 5 phút tóm tắt vấn đề, tôi hỏi Roger :
– Theo bác sĩ thì, bác sĩ có gợi ý gì về ba vụ án mạng vừa xảy ra trong gần hai tháng qua không ?

Roger:
– Theo tôi thì đây là một vụ án phức tạp vì các nạn nhân đều bị giết trong khoảng khắc mà họ không ngờ đến. Theo thiển ý của tôi thì tất cả các nạn nhân đều được tiếp cận với hung thủ. Thậm chí, hung thủ còn được sự tin tưởng của các nạn nhân. Chỉ có một điều làm tôi thắc mắc là hung khí ! Hung khí khiến cho tôi nghĩ đến các vụ tế thần của các bộ tộc thời trung, thượng cổ. Đặc biệt nữa là có đôi khi nó làm cho tôi nhớ đến chuyện Bá tước Dracula. Mà theo truyền thuyết thì quỷ chỉ có thể bị diệt khi nó bị đóng cọc gỗ vào giữa trái tim.

Ngừng một lát Roger tiếp:
– Tuy nhiên, giữa đũa và cọc thì có sự khác biệt không nhỏ !

Tôi nói:
– Cách đây vài ngày, khi tham khảo hồ sơ trong trung tâm tư liệu quốc gia cũng như trao đổi với các đồng nghiệp bên Europol. Chúng tôi cũng có cùng quan điểm với bác sĩ. Chúng tôi loại bỏ ra khỏi vụ án các thành phần sát nhân vì tiền cũng như những kẻ giết người vì thú vui. Tuy nhiên, tất cả chúng tôi đều hướng mũi dùi về một tà giáo nào đó. Thí dụ như vụ án đền mặt trời ở Thụy sĩ. Vụ án rừng đen ở Đức v.v… các nạn nhân đều bị hạ sát rất nhanh, gọn, sạch. Nhưng sự khác biệt giũa vụ án đang làm nhức đầu chúng ta là các nạn nhân cho đến giờ không có một liên quan gì cả !

Nói đến đây, tôi bất chợt thấy như có cái gì nghẹn nơi cổ họng. Tôi quay qua Sylvie:
– Sylvie, cô có thể cho tôi biết…. ngày, thánh, năm sinh của Lugi, Hans.

Sylvie lật hồ sơ, cô chau mày lại rồi nhìn tôi, giọng đầy xúc động:
– Lugi sinh ngày … 24 tháng 06 năm 19xy ! Hans cũng sinh ngày 24 tháng 06 năm 19xy !

Quay sang Charlie tôi hỏi:
– Chúng ta có thông tin gì về nạn nhân thứ ba chưa ?

Charlie:
– Vẫn chưa ạ.

- Anh hãy thử dùng ngày sinh 24 tháng 06 năm 19xy để truy tìm thông tin về nạn nhân thứ ba. Anh đi đi, tôi đợi tin anh.

Chúng tôi chưa dứt cuộc họp thì một cú điện thoại. Tôi bắt máy:
– Tôi, thanh tra trưởng Đặng, xin hỏi ai ở đầu dây.

Đầu dây bên kia:
– Thanh tra hãy đến căn nhà số AA đường ABCD ngay lập tức. Người nhà của phóng viên thể thao đài truyền hình quốc gia vừa phát hiện ông ta tử vong trong vườn phía sau nhà….

- Chúng tôi sẽ đến ngay. Tôi gác máy điện thoại ngay sau khi dứt lời. Tôi nói với các đồng nghiệp thuộc cấp:
– Vụ án thứ tư, chúng ta cùng đi thôi.

Quay sang Roger, tôi hỏi:
– Anh có đi theo chúng tôi không ?

- Đi chứ, Roger trả lời và đứng dậy nối gót theo chúng tôi.

Trên đường đến hiện trường, Sylvie tỏ ra lo lắng:
– Chúng ta có thể dấu được báo chí ba vụ án trước, nhưng vụ án này tôi thấy chúng ta có nguy cơ bị báo chí tấn công !

- Tôi cũng đang lo báo chí sẽ làm to việc này, tôi nói. Hy vọng Charlie có được thông tin thuận lợi.

 

Phần 4 : Những nạn nhân cùng một tuổi

Máy bộ đàm trên xe gửi tín hiệu, tôi bật lên, chưa kịp trả lời thì giọng hối hả của người cảnh sát vang lên:
– Delta 1 gọi Alfa 1 và 2 nghe rõ, trả lời.

- Alfa 1 nghe rõ, có chuyện gì thế, tôi nói.

Delta 1:
– Không xong rồi, đã có phóng viên đài truyền hình, báo chí đang có mặt tại hiện trường….

- Cứt thật ! Delta 1 cho phong tỏa khu vực ngay đi nhé. Khoảng 10 phút nữa chúng tôi sẽ đến. Hết.

Quay sang Sylvie, tôi nói:
– Tôi lại phải nhờ đến tài ngoại giao, sự thông minh của cô rồi…

Sylvie:
– Vâng Sếp, hễ cứ có chuyện phức tạp là y như rằng tôi bỗng dưng trở thành “thông minh, khéo léo, xinh đẹp”. Vâng, Sếp cứ nói.

Baguette4

- Đến nơi, cô có thể thay tôi trả lời phóng viên, báo chí. Olive sẽ giới thiệu với họ cô là đại diện ban điều tra, cũng là phát ngôn viên của phòng khoa học hình sự. Cô cố gắng kéo bọn nhà báo đi xa khỏi hiện trường, cố gắng đề nghị bọn họ chớ vội đưa tin để tránh phải “rút dây, động rừng”. Sau đó, cô nghĩ cách đánh lạc hướng vấn đề để kéo dài thời gian.
Tôi tin chắc cô thừa thông minh để đảm nhiệm trọng trách này.

Sylvie thở dài:
– Vâng, tôi sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ thưa Sếp.

- Cám ơn cô !

Xe vừa đến hiện trường, chúng tôi thả Sylvie ngay ở nơi mà phóng viên, báo chí đang tụ họp. Số người còn lại, chúng tôi chạy thẳng lại nơi xảy ra án mạng. Sau 5 phút khám nghiệm, Roger, bác sĩ tư pháp cất lời:
– Nạn nhân chết đã hơn 8 tiếng.

- Có nghĩa là sau khi hạ thủ với người đàn bà là hắn đã xuống tay ngay với người này ? Tôi hỏi lại.

Roger xác nhận :
– Chắc chắn là như thế.

Tôi hỏi người cảnh sát đang ghi chép gần đó:
– Chào anh, anh tên gì ? Anh có thể cho tôi biết thêm thông tin về nạn nhân.

Người cảnh sát sau khi chào tôi liền trình bày :
– Nạn nhân tên là Mercier. Ông ta là phóng viên đài truyền hình quốc gia, 65 tuổi. Khi bị sát hại, ông ta chỉ có một mình ở nhà. Chúng tôi đang liên với vợ, con của ông đang nghỉ hè ở Tây ban nha….

Người cảnh sát còn chưa kịp nói hết thì tôi ngắt ngang:
– Anh có ngày sinh nhật của Mercier không ?

- Có đây, cảnh sát viên vừa trả lời tôi, vừa lật trang giấy, anh tiếp. Nạn nhân sinh ngày 24 tháng 06 năm 19xy…

- Cám ơn anh.

Vừa dứt lời, tôi và bác sĩ Roger đều cùng chau mày nhìn nhau, tôi nói:
– Anh giao việc lại cho bên khoa học hình sự, tôi có chút việc cần đến anh.

30 phút sau, cả hai chúng tôi đều trở về cơ quan, chúng tôi cùng lên phòng tư liệu của cảnh sát tư pháp. Chúng tôi chưa kịp mở máy tính thì chuông điện thoại di động của tôi đã réo vang.
– Allo, chào Sếp, Charlie đây.

- Chào Charlie.

- Có thông tin rồi Sếp, người đàn bà đó tên là Marie J. có chồng đã li dị, không con … sinh ngày 24 tháng 06 năm 19xy… Sếp đang ở đâu ? Tôi sẽ đem bản tường trình đến ngay.

Tôi khen:
– Làm việc tốt lắm Charlie, chúng tôi đang ở phòng tư liệu của tư pháp. Anh có thể xuống ngay. Tôi và Roger đợi anh.

Ba phút sau, Charlie đẩy cửa bước vào. Anh kể :
– Tôi không tìm thấy thông tin về bà ta trên máy, tôi phải gọi điện cho sở lưu trữ danh bạ thành phố. Sau đó, tôi phải gọi điện cho tất cả những người phụ nữ cùng sinh ngày 24 tháng 06 năm 19xy…. Nói cho oai chứ thật ra chỉ có 4 người đàn bà sinh cùng ngày…

Cắt lời Charlie, tôi hỏi lại :
– Anh tìm thấy danh sách của họ ở sở lưu trữ danh bạ thành phố ?

Charlie :
– Vâng.

Tôi nói :
– Chúng ta đến đó ngay thôi.

Cả ba chúng tôi chạy vội ra xe, tôi giao tay lái cho Charlie. Ngồi ghế sau với Roger, tôi hỏi anh ta :
– Anh đã từng đi công tác ở nhiều nơi, có kiến thức vô hạn, anh có ý kiến gì không ?

Roger :
– Những chiếc đũa giết người có bọc thép ở đầu đũa, làm cho tôi nhớ đến những con dao đặc biệt mà ngày xưa người Trung đông dùng để thọc huyết thú vật tế thần. Con dao có hình tròn, dài khoảng 40 cm đó cũng được trưng bày ở viện bảo tàng Hoàng Gia Vương Quốc. Tôi đã từng thấy con dao đó. Loại dao này cũng được xử dụng ở các nước nam Mỹ, các nước Á châu như Ấn độ, Nam Dương (Indonesia) v.v…

Ngừng một lát, Roger tiếp :
– Tuy nhiên, các án mạng xảy ra ở đây tuy vũ khí có vẻ trùng hợp với các thứ vũ khí cổ đại đó nhưng vấn đề là tại sao lại là vũ khí đó ? Giết người bằng đũa quả thật chẳng đơn giản tí nào !

- Anh nói đúng thật chẳng đơn giản tí nào ! Tôi nói. Nhưng ở đây lại có một vấn đề khác nữa. Đó là có sự chọn lọc kỹ lưỡng các nạn nhân. Tất cả đều sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm…

- Ý tưởng chọn những người sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm quả là ý tưởng điên rồ ! Roger thở dài. Tôi tiếp tục câu chuyện :

- Tuần vừa qua, tôi nói, tôi có tham khảo tài liệu của Sở lưu trữ tư liệu quốc gia và trao đổi với các đồng nghiệp Europol. Tôi mới biết là một số bộ tộc ở nam Mỹ, Tân cương, Nam Dương, có rất nhiều phong tục, tập quán lạ lùng. Thí dụ như họ xả thịt thân nhân của họ cho chim ăn…

Bất chợt Roger cắt lời tôi:
– Chúng ta đều xác định là các nạn nhân đều “sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm” ! Chẳng lẽ nào …?

Tôi nói:
– Anh cũng đã nghĩ ra ?

Roger nói:
– Ở Nam Dương, người ta có một tập quán rất lạ. Đó là khi trong gia đình có ai sắp chết vì bệnh tật hay ốm đau gì thì họ sẽ kết liễu cuộc sống để người nào có cùng ngày sinh có thể…

Tôi tiếp:
– Vì họ tin rằng nếu người đó bị giết thì người nào sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm sẽ được hưởng thêm thời gian sống mà người kia bỏ lại.

Roger nói:
– Đúng thế….

(còn tiếp)
ĐVTN

CỨU VẬT, VẬT TRẢ ƠN

Standard

Chú rùa biển được phóng sinh, 16 năm sau cứu mạng con trai!

Tin tức Tân Đường Nhân ngày 22 tháng 10 năm 2014]  Tại Keelung, Đài Loan có một cửa hàng với cái tên là “Ngộ Duyên Hào”. Ông chủ Lâm vốn là một người rất tử tế, xung quanh khu vực ông sống có rất nhiều những cư dân đánh cá hay kiếm sống quanh đó.

Một ngày, ngư dân dùng lưới bắt được một con rùa lớn, đúng lúc khi họ chuẩn bị giết làm thịt bán thì ông Lâm đi ngang qua, và thấy một đám đông vây quanh con rùa chuẩn bị giết nó, nhìn thấy cảnh tượng con rùa không ngừng vươn cổ cúi đầu lậy người xung quanh, hai mắt của chú rùa đầy nước mắt, dường như cầu cứu mọi người. Ông Lâm đã xuất tâm từ bi, không tiếc bỏ ra một số tiền lớn để mua con rùa, đồng thời nhờ mọi người giúp đưa nó trở lại biển để phóng sinh.

Do lo lắng rằng ai đó sẽ lại bắt lấy nó và giết, vì vậy ông đã viết lên mai của rùa 5 chữ là “Gặp duyên số phóng sinh”, thông qua đó hy vọng rằng người sau sẽ từ bi, khai ân cho nó được sống tự do, đừng tùy ý giết hại nó. Sau khi viết xong họ liền đưa chú rùa ra biển phóng sinh, rất nhiều người dân tại bãi biển lúc đó đều nhìn thấy con rùa khổng lồ nổi lên, không ngừng liên tục khấu đầu tạ ơn ông Lâm.

Mọi người chứng kiến cảnh tượng đó đều cảm thấy rất cảm động. Vì vậy, họ cũng tự hứa với nhau, nếu sau này gặp phải một con rùa lớn như vậy, thì họ sẽ không bắt, không giết và cũng không ăn. Với khẩu hiệu và phương châm “3 không” này, cho đến hôm  nay nó vẫn còn được lưu giữ ở khu vực này.

Sự việc đã trôi qua 16 năm, cậu con trai thứ hai của ông Lâm đã được nhận vào trường thương nghiệp tại Đài Bắc, trong dịp nghỉ lễ cậu tranh thủ về thăm nhà. Lần đó, khi đang trong chuyến hành trình trở về, do thuyền đi ngược dòng biển, thật không may con tàu bị mắc cạn và chìm. Hơn 100 hành khách trên tàu, thì có tới 90 người bị dòng nước nhấn chìm.

Tại thời điểm này, con thuyền tràn đầy tiếng la hét cứu mạng, thực sự đinh tai nhức óc. Con trai ông Lâm mặc dù biết bơi, nhưng do sóng biển quá lớn, anh gần như bị nhấn chìm, cố gắng nỗ lực cuối cùng để sống sót trên biển. Đột nhiên anh cảm thấy cơ thể mình như được đẩy lên bởi một vật giống như chiếc bàn tròn lớn, nhìn kỹ, thì hóa ra anh đang nằm trên lưng một con rùa, sau đó nhìn kĩ hơn, anh thấy miệng của con rùa to giống như một chậu rửa mặt. Anh chợt hoảng sợ, nghĩ rằng chẳng lẽ mình sẽ phải chôn thân trong bụng con rùa này. Vì vậy, anh định quay người nhảy xuống dòng nước, nhưng do lúc đó đã quá đuối sức, không còn sức lực nào để mà tranh đấu tiếp nữa.

Sau đó, không biết đã qua một khoảng thời gian bao lâu, khi quay lưng lại, đột nhiên anh nhìn thấy trên lưng con rùa viết đúng 5 chữ “gặp duyên số phóng sinh”. Anh mới biết rằng, con rùa biển này chính là con rùa mà cha anh đã từng cứu mạng. Đột nhiên, tâm trạng của anh bỗng chuyển từ đau thương, sợ hãi thành niềm vui vô hạn cùng sự an ủi, hóa ra chú rùa chính là đến cứu mình. Vì vậy, anh đã ôm con rùa biển, để cho con rùa mang mình đi, trong miệng liên tụng niệm Phật hiệu và cầu nguyện.

Con rùa rất thoải mái khuấy động bốn chân, giống như đang chèo thuyền, cố gắng chống chọi lại với sóng to gió lớn để đưa anh lên bờ, khi vẫn còn chưa lên đến bờ, anh liền nhảy xuống vùng nước nông. Con trai ông Lâm liền hợp thập cảm tạ ơn cứu mạng của con rùa. Con rùa cũng vương cổ lên, gật gật đầu, giống như trả lễ lại, hơn nữa còn mở miệng cố nói gì đó, phát ra âm thanh, có vẻ như rất vui vẻ hạnh phúc chúc mừng, sau đó mới quay đầu và bơi đi, người dân trên bờ đều lo lắng vội tới chúc mừng.

Trong vụ đắm tàu lần này, chỉ có vài chục hành khách còn sống sót, sau cuộc điều tra mọi người phát hiện ra hóa ra họ thực sự đều là những người con hiếu thảo, những người phụ nữ đức hạnh, và thường ngày hay làm những việc thiện, chúng ta có thể nhìn thấy ông Trời đều đang ban phúc lành bảo hộ cho những người lương thiện, nhân từ và tốt bụng.

Những người dân địa phương khi biết về sự việc đều rất xúc động, đồng thời từ đó họ luôn vui vẻ hành thiện, ban đầu đã có một nhà chiêm tinh xem mệnh cho ông Lâm và nói rằng ông chỉ có thể sống tới năm 70 tuổi, nhưng ông Lâm đã sống tới 88 tuổi, hơn nữa không hề có bệnh nào hết và có được một kết thúc có hậu.

Quan hệ nhân quả một chút cũng không sai chệch, trong biển trời rộng lớn này, làm sao chú rùa biển lại có thể biết được sắp có hải nạn? Và cũng làm thế nào mà nó biết được người con trai thứ 2 của ân nhân mình ngày hôm nay sẽ bị gặp nạn trên biển? Họ đều chưa bao giờ gặp nhau, vậy thì làm thế nào con rùa lại có thể tìm thấy anh ấy trên biển cả, và lại còn có thể chở anh ta trên người? Nếu như chúng ta dùng nguồn nhân lực để tìm,cũng không nhất định là sẽ có thể thành công tìm thấy anh ấy đúng không! Điều này nếu dùng thuyết Duy vật biện chứng thì không cách nào lý giải được. Linh tính của chúng sinh cùng với Phật tính thực sự đáng kinh ngạc! Rùa cũng biết tri ân, cũng biết đền ơn đáp nghĩa, không ngại sóng to gió lớn mạo hiểm tính mạng mà đưa con trai của ân nhân an toàn trở về nhà, quả thực tinh thần này, nhân loại cũng không nhất định là có. Giá trị như vậy thật đáng để vinh danh !

Nguồn: Mạng cuộc sống

Biên tập: Trình Thành

LUẬT 10-59: SỰ NHẦM LẪN CỐ TÌNH CỦA TUYÊN HUẤN ?

Standard

Chú thích: có liên quan đến bài báo tấn công LS Lê Công Định.

“Luật 10-59”: Sự nhầm lẫn cố tình của tuyên huấn?

 

Thảo Vy

* Tác giả gửi bài cho VNTB (Nguồn: http://www.ijavn.org/2014/11/luat-10-59-su-nham-lan-co-tinh-cua.html )

Bài “Sự tráo trở của một người từng là… luật sư!” của tác giả ký tên Vũ Hợp Lân trên báo Nhân Dân (http://www.nhandan.org.vn/chinhtri/binh-luan-phe-phan/item/24862202-su-trao-tro-cua-mot-nguoi-tung-la-luat-su.html), có đoạn viết như sau:

“Rất nhiều tài liệu về tội ác của chính quyền Ngô Đình Diệm do chính người Mỹ và nhiều người nước ngoài viết đã xuất bản, chẳng lẽ Lê Công Định không đọc? Còn về máy chém, mọi người đều biết đó là một công cụ man rợ mà chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng để giết hại đồng bào, mà cái chết của Ba Cụt (tức Lê Quang Vinh, bị chém ở Cần Thơ năm 1956), Hoàng Lệ Kha (Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Tây Ninh, bị chém ở Tây Ninh năm 1960),… là những sự kiện đủ chứng minh Lê Công Định cố tình đổi trắng thay đen, phớt lờ sự thật lịch sử”.

Liên quan về “máy chém” của “chính quyền Ngô Đình Diệm”, dưới góc nhìn lịch sử, xin được trao đổi lại với Tổng Biên tập báo Nhân Dân cùng tác giả Vũ Hợp Lân.


Sáng 26-09-2014, tại hội trường D, Trường Đại học Khoa học, Xã hội và Nhân văn TP.HCM đã diễn ra hội thảo “Lưu trữ Việt Nam Cộng Hoà (1955-1975), từ góc nhìn Lịch sử và Lưu trữ học”. Đây là hội thảo đánh giá vai trò của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà trong việc tổ chức và quản lý khối tài liệu lưu trữ trước năm 1975, cũng như việc khai thác sử dụng khối tài liệu này trong nghiên cứu và giảng dạy.Sự thật còn bị che khuất

Hội thảo nhận được 55 bài viết tham gia, trong đó có 7 bài viết được chọn trình bày tại hội thảo. Tất cả đều chưa được phổ biến rộng rãi.

  1. Nghiêm Kỳ Hồng, nguyên Phó cục trưởng cục Văn thư Lưu trữ nhà nước, giảng viên Bộ môn Lưu trữ học và quản trị văn phòng, trong báo cáo “Khái quát về lưu trữ Việt Nam Cộng hoà (1955 – 1975)”, ông đề cập đến sự khó khăn trong hoạt động lưu trữ diễn ra trong thời chiến sự ác liệt. Nhưng ông cũng chỉ ra, ở thời điểm đó, chính quyền Sài Gòn vẫn rất chú trọng đến việc xây dựng pháp luật lưu trữ, tiêu biểu là luật số 020/73 “về văn khố tại Việt Nam”.

Trong báo cáo “Tài liệu lưu trữ Việt Nam Cộng Hoà trong nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Việt Nam hiện đại”, TS. Lê Huỳnh Hoa đến từ Đại học Sư phạm TP.HCM chỉ ra rằng tài liệu về chính quyền Việt Nam Cộng Hòa có hai sự kiện được ghi chép trong sách giáo khoa và một số sách, giáo trình lịch sử khác cần được làm rõ là “Ngô Đình Diệm ban hành đạo luật đặt Cộng sản ngoài vòng pháp luật”, và “Thời điểm ban hành luật 10/59”. Bà cũng chỉ ra chính quyền Việt Nam Cộng Hòa là một tồn tại trong lịch sử nhưng lại không thấy sự có mặt của nó trong sách giáo khoa, giáo trình chính thống của Việt Nam dẫn đến sự lúng túng về các thuật ngữ về chính thể này như Đệ nhất, Đệ nhị cộng hoà,…

PGS.TS. Trần Nam Tiến, mang đến hội thảo báo cáo “Hoạt động ngoại giao của chính quyền Ngô Đình Diệm (1954 – 1975) qua tài liệu lưu trữ Việt Nam Cộng Hoà”. Ông kết luận, dưới sự bảo trợ của Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định trong ngoại giao với các nước và để lại một khối lượng tài liệu phong phú và hệ thống, góp phần quan trọng cho nghiên cứu, phục dựng các hoạt động ngoại giao của Việt Nam Cộng Hòa nói chung và thời kỳ Ngô Đình Diệm nói riêng.

Chưa thấy tài liệu lưu trữ văn khố nào của chính thể Việt Nam Cộng Hòa lẫn của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đề cập về việc áp dụng án tử hình từ luật 10-59 để chém được bao nhiêu người bị tòa án kết tội “Trừng phạt sự phá hoại, sự xâm phạm an ninh quốc gia, sự xâm phạm sanh mạng hay tài sản của nhân dân và thiết lập tòa án quân sự đặc biệt”.

Luật 10-59 có phải chỉ dùng để trị cộng sản?

Quốc hội Việt Nam Cộng Hoà thông qua luật số 91. Luật ấy được ban hành ngày 6 tháng 5 năm 1959 mang tên “luật 10-59”. Ở Phần Thứ Hai “Tổ chức các tòa án quân sự đặc biệt”, Điều 16, “Bị can có quyền nhờ luật sư biện hộ. Nếu bị can không có luật sư, Ủy viên Chánh phủ hay Chánh thẩm phải triệu dụng một luật sư biện hộ cho bị can”.

Điều 19, “Trong trường hợp xử tử hình, án văn chỉ được thi hành sau khi đơn xin ân xá bị bác bỏ”.

Trong “luật 10-59” cũng không có điều khoản nào buộc dùng máy chém cho án tử hình. Hình ảnh lưu trữ về nội dung của “luật 10-59”, cho thấy không đề cập đến chuyện “trả thù những người kháng chiến cũ” như lâu nay vẫn được tuyên truyền từ phía chính quyền miền Bắc. Ngoài ra, “luật 10-59” cũng không thấy mô tả về hành vi phạm tội nào giúp có thể liên tưởng đến chuyện “tạm đình chiến 2 năm, chờ ngày tổng tuyển cử hai miền”, như sách giáo khoa của chính quyền miền Bắc viết khi cáo buộc chính quyền Ngô Đình Diệm đã vi phạm đình chiến, “lê máy chém” để trả thù “những người kháng chiến cũ”.

Cho đến nay, về phía Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thể hiện trên sách giáo khoa, chỉ mới nêu được tên người bị chém bởi “luật 10-59” là ông Hoàng Lê Kha, Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy Tây Ninh. Theo đó, tháng 3 năm 1959, khi ông chuẩn bị đi công tác thì bị người của chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt tại nhà ông Hai Thương, sau đó bị đưa về giam ở khám Chí Hòa (Sài Gòn).

Ngày 2 tháng 10 năm 1959, Hoàng Lê Kha bị kết án tử hình tại tòa án quân sự đặc biệt. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 12 tháng 3 năm 1960, Hoàng Lê Kha bị hành quyết bằng máy chém tại Tam Hạp (Trảng Lớn, Châu Thành, Tây Ninh). Khi ấy, ông đang ở tuổi 43. Chưa thấy công bố tài liệu nào mô tả về phiên tòa này, và các trình tự công tố ra sao nên cũng chưa thể khẳng định bản án tuyên – nếu có, từ phía tòa án quân sự là đã được tuyên từ căn cứ pháp lý của “luật 10-59”.

Đến nay cũng chưa thấy công bố giải mật bất kỳ tài liệu nào, kể cả văn thư lưu trữ cho biết những ai đã bị thi hành án tử bằng máy chém. Cũng nói thêm, bài viết (nói trên) của báo Nhân Dân có ghi là “Ba Cụt (tức Lê Quang Vinh, bị chém ở Cần Thơ năm 1956”, tình tiết thời gian này cho thấy không phù hợp cáo buộc, vì “luật 10-59” được ký vào ngày 06-05-1959.

Chiếc máy chém được cho là dùng để chém ông Hoàng Lê Kha, hiện trưng bày tại Bảo tàng Cần Thơ, sau thời gian dài đã được trưng bày tại Nhà Bảo tàng Tội ác Mỹ – Ngụy (hiện được đổi tên là Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh) nằm trên đường Võ Văn Tần, quận 3, TP.HCM. Chưa rõ vì sao chiếc máy chém này lại không được đặt tại Bảo tàng của tỉnh Tây Ninh.

Tuyên huấn cần bổ túc ngay chứng cứ hình ảnh

Hình ảnh thời kỳ đấu tố của Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc có nhiều đến độ người ta đủ để làm một triển lãm kéo dài trong 3 ngày hồi tháng 9 vừa qua. Thậm chí ngay trong vùng hành quân thuộc vùng kiểm soát của Việt Cộng là Mỹ Lai, mà chuyện thảm sát vẫn có đầy đủ hình ảnh cho cả thế giới xem…

Xử bắn Nguyễn Văn Trỗi thì vẫn có phóng viên báo chí đầy đủ để quay phim chụp ảnh lưu lại,… Tuy nhiên, sự thật lịch sử dường như vẫn chưa được tôn trọng khi trên sách giáo khoa lẫn nhiều trang web khác của Nhà nước Việt Nam, viết: “Hình ảnh cuối cùng của liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi do một nhà quay phim, người Nhật chụp, khi anh đã giật tấm khăn bịt mắt và nói: “Tôi không có tội, kẻ có tội cần phải trừng trị là bọn xâm lược Mỹ và lũ Việt gian Nguyễn Khánh”. Trước khi bị  bắn, Nguyễn Văn Trỗi hô to: Hãy nhớ lấy lời tôi!/ Đả đảo đế quốc Mỹ!/ Hồ Chí Minh muôn năm!/ Việt Nam muôn năm!” (http://www.baotanghochiminh.vn/TabId/489/ArticleId/7168/PreTabId/456/Default.aspx)

Clip này hiện được đưa lên phổ biến rộng rãi trên internet và hoàn toàn không như mô tả nói trên.

Chuyện xử chém ở giữa chợ như nhiều thông tin từ phía Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa rêu rao là chuyện tày trời, thì chưa thấy một hình ảnh nào được công bố. Ngay cả nhân vật Hoàng Lê Kha được cho là “người cuối cùng” bị chém bởi “luật 10-59”, cũng chưa có hình ảnh lưu trữ liên quan được công bố.

Bút kỳ chiến tranh của những nhà văn quân đội từ phía Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, cũng chưa thấy tác phẩm nào mô tả về máy chém theo “luật 10-59” đã được “lê” đi chém trả thù “những người kháng chiến cũ” ra sao. Chỉ có tên Xăm đã dùng dao Mỹ chém đầu chị Sứ trong tiểu thuyết Hòn Đất của nhà văn Anh Đức.

Tổng Biên tập báo Nhân Dân có thể tham khảo thêm những hình ảnh chụp lại từ “Quy phạm vựng tập”, Quyển II từ 31/1/1959 đến 31/12/1959, Tòa Tổng Thơ Ký ấn hành năm 1960, phần  luật 10-59, được kèm theo bài viết này.

CHIẾC ĐŨA CỦA TỬ THẦN

Standard

Phần 1 : người thợ già Lugi

Đặng Vũ Thanh Nguyên

Sau khi đưa các con đến trường, trước khi về nhà, tôi ghé qua nhà ông Lugi lúc đó khoảng sau 9 giờ. Tôi đến để nhờ ổng sang sửa dùm tôi các ống nước chảy suốt đêm hôm qua. Tôi bấm chuông nhiều lần, không thấy ai trả lời, tôi định bỏ đi thì tình cờ tôi đụng vào cửa, thấy cánh cửa bỗng dưng bật mở, tôi đẩy cửa bước vào thì … Chúa ơi !!!

Ngừng một chút để lau nước mắt, bà Angela tiếp :

- Tôi chạy ra đường la toáng cả lên, hàng xóm họ kéo tới rồi sau đó có người gọi điện cho các ông.

Phải công nhận nhìn tử thi của Lugi, bà Angela không hoảng loạn mới là chuyện lạ. Lần đầu tiên từ khi vào nghề, tôi mới thấy một vũ khí kỳ lạ như vậy. Tôi cúi đầu xuống quan sát tử thi của người thợ ống nước. Nạn nhân khoảng trên 60 tuổi. Trước ngực ông là một cây đũa đâm thấu tim từ trước trổ ra sau. Chỉ có một chỉ máu bám vào phía trước, loang lở trên ngực áo, một chút máu rỉ ra từ phía sau đã khô ráo. Cách nằm và bàn tay của nạn nhân biểu hiện nạn nhân chết ngay tức khắc. Nhưng ánh mắt vô hồn của Lugi chứng tỏ rằng ông ta còn chưa hết ngạc nhiên. Máu đã khô cứng, chuyển sang màu tím đậm, các ngón tay bắt đầu cứng, chứng tỏ nạn nhân đã bị sát hại khoảng trên 10 tiếng.

Baguette1

Dùng đũa để giết người quả thật là trường hợp hy hữu, kẻ sát nhân phải là một người rất khỏe mới có thể đâm chiếc đũa gỗ dài 40 cm xuyên thủng 3 lớp áo, thấu tim. Đường kính to nhất là đuôi đũa chỉ khoảng 5 mm, đầu đũa được chuốt nhọn. Sau khi cô lập hiện trường để cho việc điều tra sau này, tôi quyết định cho các cộng sự viên của tôi đem tử thi của Lugi rời hiện trường. Trong khi tôi đang luẩn quẩn tìm dấu vết mà thủ phạm khả dĩ có thể để lại thì bà Angela nói :

- Khổ thân ông Lugi, ai có thể nhẫn tâm làm chuyện này !

Tôi hỏi :

- Bà nói « nhẫn tâm », phải chăng ông Lugi là người tốt ?

- Vâng, bà Angela nói. Ông Lugi là một người tử tế, từ lúc ông về hưu đến nay, ông thường hay dùng thời gian rảnh rỗi để giúp đỡ hàng xóm. Ông chưa hề gây bất bình với ai cả. Cả khu phố chúng tôi ai cũng mến ông ấy.

- Vậy bà có thể kể thêm chi tiết về ông Lugi được không, tôi hỏi.

Angela :

- Vâng, ông Lugi góa vợ được 6 năm, ông có một người con trai đang ở trong hải quân của quân đội Hoàng gia. Con trai của ông cũng rất ngoan và hiền lành, vẫn còn độc thân. Từ khi vợ của ông qua đời, ông ở vậy, không có bạn gái gì cả. Tối ngày ông chỉ đi dạo với con chó nhỏ, đi giúp đỡ hàng xóm sửa chữa hệ thống sưởi, ống nước, điện nhà. Ông là người rất tử tế. Ông thanh tra có thể đi hỏi tất cả những người sống trong khu phố. Ông sẽ rõ thôi.

- Bà không nghĩ là ông Lugi có kẻ thù ? Tôi hỏi.

- Tôi khẳng định là không, bà Angela nói.

Thật ra câu hỏi của tôi khá thừa, vì trong khi nói chuyện với bà, thỉnh thoảng tôi đảo mắt ra ngoài đường, thấy rải rác đây đó có vài người cả đàn ông, lẫn đàn bà có người thì nức nở khóc, có người thì đưa khăn lên lau nước mắt. Chứng tỏ rằng Lugi là một con người mà hàng xóm ai cũng mến.

- Vậy theo bà nghĩ thì ông Lugi có phải là người giàu có, khá giả, có tiền để trong nhà không ?

Angela :

- Không, nhất định là không, ông Lugi sống rất giản dị, ông ấy lại không hoang phí, với lại chúng tôi ở gần ngân hàng, không có lý gì mà ông Lugi lại để tiền ở trong nhà. Mà ông thanh tra cũng biết đó, với đồng tiền hưu trí khiêm nhường thì lấy đâu ra để mà hoang phí !

Lời nói của Angela rất phù hợp với hiện trường. Tất cả vật dụng trong nhà của Lugi đều không bị di chuyển. Các ngăn kéo đều có cùng một dấu vân tay. Trong ví của ông để trên bàn vẫn còn nguyên số tiền 142€. Tay của ông vẫn còn chiếc nhẫn cưới và sợi dây chuyền bằng vàng có cây thập tự giá khá nặng vẫn còn nguyên trên cổ. Chỉ với những thông tin chẳng có lợi ích gì mà tôi phải bắt đầu cuộc điều tra. – Nạn nhân là người tử tế, hiền lành được tất cả chòm xóm quí mến. – Nạn nhân dường như không có kẻ thù. – Con trai của ông đang công tác trên chiến hạm đóng ở vùng Địa Trung Hải. – Cướp của không thể nào là nguyên nhân của án mạng. Càng suy nghĩ, tôi càng đi vào bế tắc, cái chết của Lugi quả thật không có điểm khởi nguồn.

Tuy nhiên cái chết đó khiến cho tôi liên tưởng đến những án mạng có nét tương tự như vậy của các tà giáo đã từng xảy ra trong quá khứ. Nhưng các điều tra viên của tôi báo cáo rằng Lugi chỉ đơn giản là Cơ đốc nhân, ông đi lễ nhà thờ mỗi ngày chủ nhật. Ông hay đi làm việc thiện nguyện với các tổ chức như Tin Lành thành phố, hội hồng thập tự v.v… Có nghĩa là ông không hề tham gia các tổ chức tà giáo. Thậm chí, con trai của ông bị tôi hỏi cung khi anh ta về để làm lễ an táng cho người cha quá cố cũng xác định cuộc sống lành mạnh của Lugi. Một đặc điểm khác là Lugi chỉ kết bạn với những người anh chi em cùng đức tin và những người tốt, lương thiện như ông. Không một chút đầu mối cho án mạng, ngoại trừ chiếc đũa ! Cuối cùng tôi và cả ban cộng sự đều đành phải bó tay. Chúng tôi tin chắc rằng sẽ phải đợi ít nhất vài ba án mạng kế tiếp mới hy vọng có được sự kết nối. Trong khi chờ đợi, tôi quyết định gửi báo cáo cho Europol nhờ họ truy tìm những án mạng có hình thức tương tự. Đồng thời, tôi cũng nhờ họ cung cấp cho tôi tất cả các tài liệu liên quan đến các tà giáo. Tôi yêu cầu các cộng sự viên phải nghiên cứu hồ sơ mà Europol sẽ cung cấp trong tương lai liên quan đến tà giáo.

Phần 2 : chuyến xe lửa liên tỉnh.

Hai tuần sau, ngày 11 tháng 08 năm 20.., tôi và các đồng nghiệp phải khẩn cấp đến thành phố Koln (một thành phố của nước Đức thuộc North Rhine-Westphalia) nơi vừa xảy ra một án mạng tương tự. Thông tin cá nhân của nạn nhân đã được các đồng nghiệp người Đức cung cấp rất đầy đủ. Nạn nhân là người Hòa Lan, tên là Hans Ver., sinh ngày 24 tháng 06 năm 19xy, 65 tuổi. Tử thi được phát hiện vào lúc 8 giờ sáng trên chuyến tàu từ Bruxelles đến Hambourg. Trước ngực nạn nhân là một chiếc đũa ghim từ chiếc áo pull qua chiếc áo T-shirt xuyên thủng tim từ trước, trổ ra sau, ghim chặt vào ghế.

Theo hình chụp và báo cáo của bác sĩ pháp y thuộc cục cảnh sát khoa học hình sự Đức thì Hans chết ở tư thế ngồi, mắt trợn trừng, miệng há hốc như không ngờ được và không hiểu tại sao mình phải chết ! Nạn nhân là một kế toán sinh sống ở Middelbourg một thành phố phía tây nam Hòa Lan gần Zélande, Hans vừa mới về hưu được hai tháng. Fredy, thanh tra tư pháp Đức chở tôi đến nhà xác.

Baguette2

Đến nơi, anh dẫn tôi đến thăm phòng lạnh nơi cất giữ tử thi của Hans. Hans tuy 65 tuổi nhưng là một con người có vóc dáng cao 1 m 82, dựa theo cơ bắp thì Hans là một con người có máu thể thao, tóc cắt ngắn, gọn. Chiếc nó dạ để bên cạnh viền nón không có một vết bẩn, không dính một sợi tóc, cho thấy Hans là một con người cẩn thận, sách sẽ, sức khỏe tốt. Với một con người như vậy mà bị hung thủ đâm đũa vào tim, chứng tỏ thủ phạm phải là một kẻ có sức khỏe, mạnh mẽ hơn nạn nhân. Cũng giống như Lugi, kẻ giết người đã không hề đụng chạm đến số tiền khá lớn trong túi của Hans cũng như chiếc đồng hồ hiệu Longines có giá trị vài nghìn €.

Rời nhà xác, chúng tôi đến thẳng nhà gare Koln để thẩm cung người soát vé đã phát hiện tử thi của Hans. Người soát vé tên Johan, trạc trên 40 tuổi, cao khoảng 1m70. Anh ta vẫn còn bị shock. Tôi và Fredy ngồi xuống cạnh anh, Tôi hỏi.

- Anh có còn nhớ, trong cabine đó, có những ai ngồi chung với nạn nhân không ?

Johan :

- Không, nhưng theo tôi nghĩ, vì đó là cabine 4 người, cho nên các khác ngồi trong cabine đều phải đăng ký trước để đặt chỗ.

Tôi hỏi :

- Anh có thể cho tôi biết thông tin về chuyến tàu không ?

Johan :

- Đó là chuyến tàu khởi hành từ Gand đi Bruxelles, Koln, Hambourg, Bẻrlin. Ông Hans chắc là đổi tàu ở Gand chuyến 21 giờ 31 phút.

- Số hiệu chuyến tàu ? Số cabine của nạn nhân, tôi nói.

Johan :

- Chuyến tàu mang số hiệu « G14xy-ac », cabine số B311.

Tôi đưa mảnh giấy ghi số hiệu của tàu điện, số cabine cho Sylvie, người nữ thanh tra phụ tá của tôi, nói :

- Xin lỗi Sylvie, làm phiền cô gọi điện về cho công ty hỏa xa giúp tôi để xin tên của các người khách đăng ký số cabine B311. Cám ơn cô.

- Vâng, tôi đi ngay, Sylvie nói vừa dứt lời, cô đã biến thoắt sau cánh cửa. Fredy nhìn tôi mỉm cười, hiểu ý anh, tôi nói :

- Đương nhiên là không có hy vọng gì, nhưng tôi hy vọng trong số nhân viên của công ty hỏa xa phục vụ cho chuyến tàu mang số hiệu « G14xy-ac » ít ra cũng có người nhận diện được một vài chi tiết nhỏ của nạn nhân.

Chưa đầy 15 phút sau Sylvie trở lại với danh sách của người hành khách ở chung cabine với Hans. Đọc tên của người khách, tôi nói với Sylvie :

- Christian Lorenzo Lejeune, cũng chỉ là tên giả có đúng không ?

Sylvie :

- Vâng tôi đã cho kiểm tra, trên toàn Vương quốc không có ai có tên này, nhưng trùng họ thì có đến cả ngàn ! Họ Lejeune là một họ quá phổ biến như họ Nguyễn của dân tộc của ông !

Trở về bên Johan, tôi hỏi :

- Thế anh có còn chút gì về hình ảnh của người dùng chung cabine với Hans không ?

Johan :

- Hoàn toàn không !

Đến đấy, tôi xin phép kiếu từ Fredy, Johan. Chúng tôi vội vã ra xe trở về nhiệm sở. Trên đường về, Charlie một thanh tra phụ tá của tôi nói :

- Hoàn toàn bế tắc !

Không muốn làm nản chí các cộng sự viên, tôi nói :

- Chưa chắc, về đến nơi, tôi đề nghị Sylvie với tài ngoại giao, thông thạo tiếng Hòa Lan, cô liên lạc với cảnh sát Middelbourg nhờ họ cung cấp tất cả thông tin cần thiết về Hans. Những thông tin từ đời sống cá nhân cho đến tin tức từ các cựu đồng nghiệp, thậm chí các hàng xóm của Hans.

- Charlie, anh sẽ làm một bản so sánh tương đồng, khác biệt giữa Lugi và Hans.

- Riêng với Frank, với chức năng là chuyên gia về tâm lý, xã hội học. Tôi đề nghị anh giúp tôi tìm hiểu về bản chất đặc thù của những kẻ có thể gây ra án mạng hết sức đặc biệt này và quan trọng nhất, anh hãy cố gắng tìm hiểu về các lễ hội đặc biệt của các tà giáo. Về đến văn phòng trung ương, các cộng sự viên của tôi, mỗi người chia nhau đi mỗi phương hướng để làm công việc. Riêng cá nhân tôi, tôi ghé qua cơ quan lưu trữ tài liệu quốc gia tọa lạc trên một ngọn đồi ngoại ô thành phố. Trong văn phòng này, tôi có thể nối intranet để liên hệ trực tiếp với các đơn vị có khả năng để giúp đỡ chúng tôi truy tìm thủ phạm.

Phần 3 : ……..

BÀI TRẢ LỜI CỦA LS LÊ CÔNG ĐỊNH

Standard
Tôi chép lại cả bài trên báo “Nhân Dân” và bài trả lời của LS Định trên FB để tiện theo dõi.

Sự tráo trở của một người từng là… luật sư !

 Nguồn: http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/binh-luan-phe-phan/item/24862202-su-trao-tro-cua-mot-nguoi-tung-la-luat-su.html
Thứ ba, 18/11/2014 – 03:03 AM (GMT+7)

Sau hơn ba năm chấp hành án vì “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, ngày 6-2-2013, Lê Công Định được ra tù trước thời hạn. Ngỡ rằng sau khi được hưởng lượng khoan hồng của Nhà nước, Lê Công Định sẽ rút ra bài học để làm lại cuộc đời, song qua một số ý kiến đã công bố, lại thấy dường như anh ta đang muốn chứng minh mình là con người tráo trở?

Năm 2010, trước khi tòa nghị án, Lê Công Định đã thành khẩn nhận tội, tỏ ra ân hận vì “đi ngược lại những đóng góp của gia đình trong hai cuộc kháng chiến”. Đến hôm nay, vi-đê-ô clip và lời nhận tội của Lê Công Định vẫn còn nguyên trên internet, cho thấy việc làm “có mục đích tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam, hành vi của tôi đã vi phạm pháp luật Việt Nam, cụ thể là Điều 88 Bộ luật Hình sự, như tôi bị khởi tố. Tôi rất hối hận về sai lầm của mình mà vì đó mà tôi đã bị bắt tạm giam như ngày hôm nay. Do vậy, tôi đã hợp tác khai báo đầy đủ về việc làm của mình cho cơ quan điều tra, mong muốn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ và sự khoan hồng theo quy định của pháp luật”.

Sau hơn ba năm, do chấp hành tốt nội quy trại giam trong quá trình thụ án, Lê Công Định đã được ra tù trước thời hạn. Trở về với gia đình, với xã hội, thời gian đầu, Lê Công Định khá im hơi lặng tiếng, nhưng từ ngày 3-2-2014, sau khi trả lời phỏng vấn của BBC với những dòng phác họa “Từ năm lên bảy tuổi, tôi đã bắt đầu quan tâm đến chính trị. Năm lên 14 tuổi, tư tưởng tôi dần định hình. Đến năm 20 tuổi, khi sự kiện Đông Âu diễn ra, tôi xác định phải làm gì đó để thay đổi đất nước theo hướng xây dựng một quốc gia pháp trị và xã hội dân sự. Hơn 20 năm nay vẫn như vậy, không lý do gì để biến cố của bốn năm vừa qua có thể thay đổi lý tưởng của tôi” thì dường như anh ta bắt đầu hoạt động trở lại thông qua facebook, qua những bài viết, bài trả lời phỏng vấn trên một số diễn đàn của các thế lực thù địch, hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam?

Ai cũng hiểu một điều đơn giản, một người có bản lĩnh sẽ rất khó có thể bị lôi kéo. Song theo lời khai của Lê Công Định với Cơ quan An ninh điều tra (Bộ Công an) vào năm 2009 thì anh ta lại liên tục bị lôi kéo, lúc thì: “Với sự lôi kéo của Nguyễn Sĩ Bình, tôi đã tham gia Đảng Dân chủ Việt Nam và là thành viên Ban Thường vụ tổ chức này và đã tham gia các việc làm tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam”, lúc thì “Đầu tháng 3-2009, tại Pattaya, Thái-lan, tôi đã bị tổ chức Việt tân lôi kéo tham gia lớp huấn luyện đấu tranh bất bạo động”! Và đâu là sự chín chắn khi một người từng mang danh “luật sư” mà khi bàn về tự do ngôn luận, tự do báo chí trên BBC lại chỉ dẫn lại điều luật quốc tế hay điều luật nước này, nước khác có lợi cho mình (như để lòe bịp người chưa đọc các văn bản đó?), tảng lờ các nội dung có tính chế định và ràng buộc: “Trong khi thực hiện những quyền và quyền tự do cho cá nhân, mọi người chỉ phải tuân thủ các hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền và quyền tự do của những người khác, đáp ứng được các đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ” (khoản 2 Điều 29 Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế); “Việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm (…) đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu: a. Tôn trọng các quyền tự do và thanh danh của người khác; b. Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý” (khoản 3 Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị); “việc thực thi các quyền con người phải được xem xét trong bối cảnh khu vực và quốc gia, tính đến hoàn cảnh khác nhau về chính trị, kinh tế, pháp lý, xã hội, văn hóa, lịch sử và tôn giáo” và “Việc thực thi nhân quyền và các quyền tự do cơ bản sẽ chỉ được giới hạn theo quy định của luật pháp nhằm mục đích bảo đảm việc thừa nhận nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của những người khác, và để đáp ứng các yêu cầu chính đáng về an ninh quốc gia, trật tự công cộng, y tế công cộng, an toàn công cộng, đạo đức công cộng, cũng như phúc lợi chung của tất cả mọi người trong một xã hội dân chủ” (Điều 7, Điều 8 Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN)?

Đồng thời với việc đưa ra ý kiến không hoàn chỉnh về tự do ngôn luận, tự do báo chí, Lê Công Định còn có xu hướng “hoài cổ”, soi mói lịch sử nhằm xuyên tạc (hay mê hoặc người đọc thiếu am hiểu lịch sử?). Thí dụ, để hạ thấp ý nghĩa trọng đại của ngày 2-9, mấy tháng trước, trong khi nhân dân cả nước hồ hởi đón chào Quốc khánh thì Lê Công Định công bố trên facebook, sau đó gửi đăng trên BBC ý kiến cho rằng, ngày 11-3-1945 “Bảo Đại ký đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884 cùng các hiệp ước nhận bảo hộ và từ bỏ chủ quyền khác, khôi phục nền độc lập của đất nước, thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ” là “thời điểm đáng lưu ý… xét về phương diện thực tế và pháp lý, Việt Nam đã thực sự độc lập từ ngày 11-3-1945″! Viết như vậy, Lê Công Định tự chứng tỏ anh ta hoặc là người rất kém hiểu biết lịch sử, hoặc cố tình xuyên tạc lịch sử để phủ nhận một sự kiện, một giá trị quan trọng của đất nước Việt Nam. Bởi người Việt Nam am hiểu lịch sử dân tộc đều biết ngày 11-3-1945 Bảo Đại ký đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, ra tuyên bố này khác,… là do sức ép của phát-xít Nhật, qua đó chấp nhận thay thế thế lực ngoại xâm đô hộ này (Pháp) bằng thế lực ngoại xâm đô hộ khác (phát-xít Nhật). Để sáng tỏ, Lê Công Định nên tìm đọc hồi ký của ông Trần Trọng Kim cùng các tài liệu liên quan để hiểu quan hệ của ông với người Nhật như thế nào, tại sao lại có ý kiến cho rằng “Trần Trọng Kim bị người ta dùng làm con bài, mà vẫn tưởng là họ cho ông ra đóng góp với dân tộc”!

Phát ngôn bừa bãi về ngày độc lập của dân tộc xong, Lê Công Định chuyển sang ca ngợi… chế độ Sài Gòn trước đây! Như muốn hùa theo mấy kẻ chống cộng người Mỹ gốc Việt đang sống ngày tàn nơi đất khách quê người và tự huyễn hoặc, tự an ủi nhau về “quá khứ oai hùng”, Lê Công Định làm thơ “kính tặng” một viên tướng vì bại trận phải tự sát và “tướng lĩnh, binh sĩ VNCH”, mà qua câu thơ “Từng thao lược, can trường xông trận mạc – Giặc thù phơi xác, máu loang chân” (!) là có thể hiểu anh ta đứng về phía nào. Sau đó, nhân “ngày giỗ Ngô chí sĩ” và kỷ niệm sự kiện Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại, Lê Công Định vừa viết trên facebook coi Ngô Đình Diệm là “nhân vật từng có sự nghiệp vĩ đại nhất của dân tộc ở thế kỷ 20…, nhân vật lịch sử đã từng tranh đấu và ngã xuống vì quốc gia Việt Nam” (!), vừa đưa lên internet bức ảnh chụp anh ta đứng bên mộ Ngô Đình Diệm như muốn khẳng định không nói suông!? Thậm chí mới đây, trong một status đăng trên facebook cá nhân, trong khi xưng xưng viết “lịch sử phải khách quan”, anh ta lại bất chấp sự thật lịch sử, ngang nhiên coi việc chính quyền Ngô Đình Diệm “lê máy chém” giết hại nhân dân miền nam là “vu cáo… luận điệu tuyên truyền của nhà nước”! Bàn về một vấn đề hệ trọng như thế, nhưng không tìm hiểu lịch sử, hay anh ta cố tình bỏ qua lịch sử để “làm đẹp thần tượng Ngô chí sĩ”!? Rất nhiều tài liệu về tội ác của chính quyền Ngô Đình Diệm do chính người Mỹ và nhiều người nước ngoài viết đã xuất bản, chẳng lẽ Lê Công Định không đọc? Còn về máy chém, mọi người đều biết đó là một công cụ man rợ mà chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng để giết hại đồng bào, mà cái chết của Ba Cụt (tức Lê Quang Vinh, bị chém ở Cần Thơ năm 1956), Hoàng Lệ Kha (Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Tây Ninh, bị chém ở Tây Ninh năm 1960),… là những sự kiện đủ chứng minh Lê Công Định cố tình đổi trắng thay đen, phớt lờ sự thật lịch sử. Nếu là người cầu thị, Lê Công Định cần đọc mấy dòng của tác giả Cao Hữu Tâm khi trao đổi với một số người đang lao xao “hoài Ngô” đã viết trên trang mạng sachhiem.net: “Cụ đã mục xương lâu rồi, đừng mang cái xác thối của cụ ra bắt người khác ngửi mùi tử khí “anh minh” nữa. Cụ do Mỹ cho về, cũng lại do Mỹ bứng đi, đó là quy luật của nhờ cậy rồi phản bội, thôi. Còn muốn chống cộng, không phải chỉ văng tục chửi thề tục tĩu là cộng sản chết đâu, mà kết quả ngược lại, tức là bị phản ép – phê rồi đó!”.

Tuy nhiên, sự tráo trở của Lê Công Định thể hiện rõ nhất khi anh ta viết: “Chính biến cố bắt giam tôi ngày 13-6-2009 đã đẩy tôi vào con đường chính trị một cách bất đắc dĩ”! Viết như thế, chẳng hóa ra là Lê Công Định tự “vả” vào những gì anh ta nói khi trả lời phỏng vấn của BBC như đã dẫn ở trên? Từ sự thành khẩn nhận tội của anh ta trước tòa, thử hỏi ai đã tham gia “ban thường vụ” của cái gọi là “đảng dân chủ Việt Nam” của Nguyễn Sĩ Bình ở Hoa Kỳ, và nếu không bị bắt giữ thì còn giữ chức “tổng thư ký” của cái “đảng” bịp bợm này? Thử hỏi, ai đã tham gia “khóa huấn luyện” của tổ chức khủng bố “Việt tân” năm 2009 ở Pattaya (Thái-lan)? Thử hỏi, ai đã lấy các bí danh Nguyên Kha, Paul, C4 (Chị Tư) để liên lạc với đồng bọn, soạn thảo 33 tài liệu công kích chế độ? Thử hỏi, ai đã công khai thừa nhận “Tôi thấy những việc làm của tôi đã vi phạm pháp luật Việt Nam. Tôi rất ân hận với hành vi sai trái của mình”? Chẳng lẽ đó không phải là hoạt động chính trị? Bằng các câu chữ này, Lê Công Định không chỉ tráo trở sổ toẹt lời khai mà qua đó như muốn đổ lỗi cho chính quyền đã đẩy anh ta vào “con đường chính trị”. Phải chăng Lê Công Định muốn dọn đường để tiếp tục đi trên con đường cũ bằng cách thức khác? Phải chăng anh ta muốn đánh tiếng về “lòng trung thành” với ai đó? Tiền hậu bất nhất, nhưng lời khai, vi-đê-ô clip nhận tội của anh ta thì vẫn còn rành rành trên internet. Thiết nghĩ, từng là một “luật sư” được ca ngợi có “tài năng”, nhưng Lê Công Định lại công khai thể hiện thái độ tráo trở như vậy thì thử hỏi, đâu là con người đích thực của anh ta?

VŨ HỢP LÂN
Bài trả lời của LS Định trên FB (kèm hình đại diện cá nhân)

Thư ngỏ gửi “người khuất mặt khuất mày”,

Hôm nay một vài bạn hữu gửi đến tôi đường dẫn bài viết công kích cá nhân tôi trên báo Nhân Dân. Tác giả tên Vũ Hợp Lân, có lẽ là bút danh của một người không dám lộ diện công khai. Vậy tôi xin mạn phép trò chuyện với “người khuất mặt khuất mày” ở đây.LCD

Nội dung chính của bài viết nhằm chỉ trích việc tôi bày tỏ lòng kính trọng đối với các chính khách và quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, cụ thể là cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Quả thật, tôi vô cùng kính trọng hai nhân vật lịch sử anh hùng đã ngã xuống vì quốc gia ấy. Nếu so sánh họ với các nguyên thủ và tướng lĩnh ngày nay trước mối đe dọa và hành vi xâm lấn của ngoại bang đối với lãnh thổ mà tổ tiên chúng ta để lại, thì lời ca ngợi của tôi dành cho hai vị e rằng chưa diễn đạt hết niềm cảm phục pha lẫn tiếc thương của tôi. Sự đời vẫn vậy, những người đáng sống thì lại chẳng may qua đời quá sớm!

Tướng Nguyễn Khoa Nam lúc quyết định tuẫn tiết, do không làm tròn bổn phận của một quân nhân, ắt hẳn đã không đến nỗi quá “tâm tư” vì không được thăng cấp bậc Trung Tướng trước khi xả thân bảo vệ lãnh thổ mà mình mang trọng trách. Một vị danh tướng không màng đến địa vị và bổng lộc, đã chọn cái chết oai hùng, không đáng để nhiều người trong đó có tôi kính trọng sao? Việc tôi “đứng về phía nào” chẳng lẽ cũng phải xin phép ai? Yêu ghét một con người, một nhân vật lịch sử, lẽ nào cũng phải theo “định hướng”? Luật pháp nào quy định thế? Thưa ông Vũ Hợp Lân, xã hội này có thể còn thiếu tự do, nhưng tôi không cho phép mình mất tự do trong tư tưởng của chính mình, vì tôi là Con Người! Ông có quyền trung thành với ai đó, nên dù vẫn tôn trọng ông, tôi không nhất thiết phải giống ông. Tôi khác.

Bày tỏ lòng kính trọng đối với cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, không có nghĩa là muốn tái lập trong tương lai một thể chế của quá khứ. Cũng tương tự, ngưỡng mộ Đức Thánh Trần Hưng Đạo và chiến công vĩ đại của ngài, không đồng nghĩa với ý định thiết lập một vương triều quân chủ đời nhà Trần vào Việt Nam ở thế kỷ 21 này. Và nếu tôi tôn trọng cụ Hồ trong tư cách một nhân vật lịch sử, như tôi vẫn luôn bày tỏ bất kể ai phiền muộn, thì trừ phi tôi bị tâm thần mới có ý mong muốn chế độ mà cụ Hồ thiết lập từ năm 1945 mãi trường tồn cùng với bao vấn nạn tham nhũng và vi phạm nhân quyền thế này! Viết như vậy đã dễ hiểu chưa ông Vũ Hợp Lân? Suy nghĩ theo cách ấy liệu sẽ bị suy diễn là có ý đồ chống và lật đổ chế độ chăng? Thú thật, nếu ông cố tình suy diễn theo hướng đó, thì không việc gì tôi phải e ngại hay sợ ông cả.

Dù sao cũng phải cám ơn ông Vũ Hợp Lân đã trích đăng công khai những câu chính trong các bài viết của tôi, vì điều đó vô hình chung quảng bá suy nghĩ của tôi đến một số độc giả mà tôi không có dịp tiếp cận. Chỉ tiếc là tờ báo ông dùng để đăng ít người đọc quá! Tuy nhiên, nói đi cũng phải nói lại, hồi ở tù tôi rất thường đọc báo Nhân Dân, vì không một tờ báo nào khác được phép phổ biến trong khuôn khổ các trại giam ở Việt Nam dù là Thanh Niên hay Tuổi Trẻ của chính nhà nước này. Đọc để mỉm cười vui vẻ, thay vì xem hài kịch vốn không thể có trong tù.

Tôi chưa bao giờ tự xưng am tường sử học, vì đó là một lĩnh vực sâu rộng đòi hỏi nhiều năng lực và thời gian nghiên cứu, mà tôi thì chỉ dừng lại ở sự say mê học hỏi từ lịch sử cho riêng mình thôi. Tuy nhiên, có hồ đồ lắm không khi một “người khuất mặt khuất mày” viết vài ba dòng “vỗ mông ngựa” (mượn chữ của tác giả Kim Dung trong tác phẩm “Lộc Đỉnh Ký”) trên một tờ báo chuyên về tuyên truyền, chứ không chuyên ngành sử học, lại nhận định tôi “kém hiểu biết lịch sử” hoặc “xuyên tạc lịch sử”?

Để tránh tình trạng chụp mũ bừa bãi vô ích, tôi đề nghị ông Vũ Hợp Lân sớm tổ chức một mục đàm luận công khai và dân chủ với tôi về các vấn đề lịch sử Việt Nam hiện đại trên chính tờ báo Nhân Dân để độc giả rộng đường nhận định. Đây không phải là lời thách thức, mà là việc làm cần thiết để tránh tiếng “cả vú lấp miệng em” vốn thường dành cho những tay bồi bút, và cũng giúp tờ báo của ông nâng lên một tầm cao mới, thu hút thêm nhiều độc giả có đầu óc hơn. Ông đồng ý nhé?

Trân trọng,
Lê Công Định

VỤ ÁN KHÔNG THỦ PHẠM

Standard

 

 

 

VỤ ÁN KHÔNG THỦ PHẠM

Đặng Vũ Thanh Nguyên

Kỳ 1 : Người khách trọ hiền lành.

Đầu tháng 7 năm 20…, sau khi ngồi vào bàn làm việc, tôi nhận được tập hồ sơ dày cộm. Ngoài bìa để hàng chữ “CONFIDENTIEL” to tướng. Sau trang bìa có ghi thêm lời dặn “enquête urgences” (điều tra khẩn cấp).

Thấy những hàng chữ đó, tôi không còn lựa chọn nào khác là phải ngồi vào ghế bắt đầu đọc tập hồ sơ. Khi đọc được hơn chục trang, tôi không thể nhịn được nữa ! Tôi cười chảy cả nước mắt … đến mức gây chú ý cho các đồng nghiệp ở phòng bên cạnh. Trước sự tò mò của họ, tôi quyết địinh gọi cả đội của tôi vào để truyền tay cho nhau đọc hồ sơ.

Tính khôi hài của tập hồ sơ đó cũng không thể kềm chế được những đồng nghiệp bình tĩnh nhất, trầm tính nhất phải phá lên cười !

Đọc đến đây chắc là nhiều bạn đọc sẽ tự hỏi “cái quái gì mà bọn khoa học hình sự của cái xứ tư bản tụi nó lại cười như điên vậy ?”.

Nếu bạn nào đặt câu hỏi đó thì quả thật là các bạn rất thông minh! Vì đúng như nhận xét của các bạn chúng tôi “cười như điên”.

Vậy tôi xin tóm tắt lại những gì mà tôi đọc trong bản báo cáo để các bạn bỏ bớt chữ “điên” đi giùm.

Đầu năm 2000, khi đồng tiền Euro vừa mới phát hành, ở quận Br. trong khu phố lao động nghèo của một quốc gia có một khu nhà rẻ tiền dành cho công nhân các nước cộng sản đông Âu cũ đến tạm trú để làm việc. Nơi có nhiều chung cư cho công nhân ngoại quốc đến thuê là con đường Alex D. đó là cả một dãy chung cư mà các chủ nhân của nó chia ra làm nhiều lô nhỏ chỉ có một phòng khoảng 30 thước vuông gồm cả chỗ ngủ, chỗ tiếp khách, ăn, nấu nướng nhà tắm, nhà vệ sinh.

Căn nhà số 28 đường Alex D., có một người công nhân đến từ Hungaria. Anh ta là một con người rất điềm đạm, không bao giờ thiếu tiền nhà, không rượu chè, gái gú gì cả. Anh ta thuê phòng trọ ở nhà số 28 dường như chỉ dùng để ngủ ! Nhưng theo như trong báo cáo thì từ sáng sớm, cứ đến khoảng 5 giờ là anh rời khỏi nhà. Đến chiều tối khoảng 21 hay 22 giờ thì anh lại về nhà.

Nhưng, có một vấn đề là khi anh ta về nhà, hàng xóm không ai thấy anh nấu ăn gì cả. Thay vào đó, anh kéo kín màn, để đèn cho đến khoảng 3 giờ sáng thì đèn tắt và rồi đến khoảng 5 giờ là anh lại rời khỏi nhà.

Cứ như thế sau 8 tháng, vụ việc đến tai chủ nhà. Vì các phòng trọ kiểu đó thường là được cho thuê có cả tiền điện, nước, gaz, sưởi trong tiền thuê phòng. Cho nên đa số các chủ nhà đều theo dõi rất sát người ở trọ.

Một ngày kia, khi khách thuê phòng tên là Ronald rời khỏi phòng thì vào khoảng 10 giờ sáng, chủ nhà tên An đã dùng chìa khoá riêng để vào phòng trọ của anh ta.

Đồ đạc trong căn phòng xếp đặt rất gọn ghẽ, bếp núc sạch sẽ…. Tuy nhiên, có vài thứ làm cho chủ nhà phải đặc biệt quan tâm đó là hàng giây phơi quần áo thay vì dùng để phơi áo quần thì nó lại phơi …. tiền giấy vẫn còn đang ẩm !

Ngoài gần chục tờ 20 và 50 Euro phơi trên giây, còn có một số máy móc như máy in kiểu cũ (loại máy phải dùng mực, bản khắc để in). Trên bàn làm việc có vô số dao, đục dùng để điêu khắc, chạm trỗ. Dưới gầm bàn là các chai lọ hộp có chứa dung dịch tựa như là mực in. Trong góc nhà bếp là một cái máy giặt nhỏ. Trong tủ là vô số máy xay thịt, máy làm bánh, máy cán bột để làm mì Ý v.v….

Bàng hoàng về những phát hiện, An bèn lấy một tờ giấy 20€ treo trên giây xuống xem xét. Ông ta phát hiện những tờ giấy trên giống y hệt như tờ giấy 20€ mà An vừa lấy trong túi của mình ra để so sánh ! Giống không sai một chi tiết !

Không cần phải suy nghĩ nhiều, An quyết định tối nay sẽ mặt đối mặt để tra hỏi Ronald và gã quyết định sẽ thủ theo súng để tự vệ khi cần thiết.

Đêm đó, đúng 15 phút sau khi . về đến nhà, An gõ cửa phòng trọ :

- Tôi biết hết mọi sự rồi, tốt nhất là anh nên mở cửa cho tôi vào.

Im lặng khoảng vài giây, tiếng lạch cạch sau cánh cửa, Ronald hé cửa mời An vào, không che dấu được nét mặt của kẻ chiến thắng, An nói:

- Đúng theo hợp đồng, tôi có quyền vào phòng trọ để kiểm tra vệ sinh của phòng trọ, sáng nay tôi đã vào đây và tôi phát hiện… nói đến đây bỗng An khựng lại vì anh ta thấy trên sợi giây treo quần áo chỉ còn lại đúng hai tờ giấy bạc 50€.

Im lặng một chút, An phủ đầu ::

- Anh đừng tưởng dấu được tôi đâu nhé, tôi đã chụp ảnh và lưu trữ tất cả các thứ mà anh đã treo trên giây cũng như các hoá chất mà anh có…

Ronald buông mình xuống ghế, ôm đầu thở dài.

An tấn công tới tấp:

- Bây giờ tốt nhất là anh nên khai báo hết mọi việc với tôi, nếu không tôi sẽ báo cho cảnh sát. Anh đừng quên là tôi có mang theo vũ khí phòng khi anh trở mặt.

Bầu không khí bỗng trở nên nặng nề. An một tay nắm chặt quả đấm của cánh cửa, một tay dấu trong túi áo. Ronald ngồi co ro trên ghế, hai tay ôm lấy đầu.

An tuy đã gần 60 tuổi, vóc dáng nhỏ bé, nhưng vẫn còn rất nhanh nhẹn. Vốn là một tay nhiều thủ đoạn, đầy đủ bản lĩnh để dám cho những thành phần phức tạp trong xã hội thuê phòng trọ như ngoại kiều, những người sống bằng tiền thất nghiệp, tiền trợ cấp tế bần v.v…
Thừa hưởng tài sản, tiền bồi thường nhân mạng của người bố thợ mỏ tử vong trong tai nạn xụp hầm mỏ khi hắn mới 26 tuổi. Vì bố mẹ của An li dị khi hắn còn nhỏ, sau đó mẹ của An chết vì tai nạn xe lửa nên An đã được hưởng toàn bộ tiền bồi thừa cũng như gia tài. Thấy cơ hội đã tới, An quyết định bỏ công việc lao động thủ công bắt đầu đi mua nhà để sửa chữa, một số nhà lớn, hắn giữ lại để chia thành chung cư hoặc phòng trọ cho thuê. Một số nhà nhỏ hơn, An sửa xong bán lại. Nhờ thế, mà trong hơn 30 năm hành nghề, An… có số tài sản khá lớn. Tuy nhiên, do tính tình không được « bình thường » cho lắm nên hai lần kết hôn, hai lần An đều li dị ! Đó là nguyên nhân vì sao An dù có nhiều tiền nhưng vẫn phải sống độc thân. An có hai sở thích đó là tiền và gái. Với tiền thì An không từ chối bất kỳ một thủ đoạn nào để kiếm tiền. Với gái thì An sau khi li dị thường hay la cà đến các ổ mại dâm để giải quyết nhu cầu. Do đó với An có tiền là có gái, muốn có gái thì phải có tiền. Một quan niệm sống rất đơn giản.

Không khí căn thẳng trong căn phòng nhỏ trở nên nhẹ nhàng hơn khi Ronald nói :

- Thôi được rồi, đã tới nước này thì tôi đành phải thú thật với ông. Tôi chỉ mong sao ông đừng tố cáo những việc tôi làm với cảnh sát. Sau này, ông muốn gì tôi cũng sẵn sàng hợp tác với ông…

DVTN1

Ronald chưa dứt lời, An nói :

- Khoan đã, trong hoàn cảnh này người đặt điều kiện sẽ là tôi chứ không phải là anh. Anh phải lưu ý điểm này. Bây giờ, anh có thể bắt đầu câu chuyện theo thứ tự từ khi anh dọn về đây, anh làm gì ? Đi những đâu ? Số tiền giả này ai làm ?

- Vâng tôi sẽ khai hết với ông – Im lặng một chút, Ronald bắt đầu kể:

Kỳ 2 : Những tờ giấy bạc

- Trước khi chế độ cộng sản đông Âu sụp đổ, tôi ở trong nhóm chuyên môn làm tiền giả của AVO (Allamvedelmi Osztaly – mật vụ Hungaria) dưới sự chỉ huy của KGB (Komitet Gossoudarstvennoï Bezopasnosti) và GRU (Glavnoyé Razvédyvatel’noyé Oupravléniyé – Tình báo quân đội Liên xô). Khi khối cộng sản sụp đổ, chúng tôi bị giải thể. Suốt bao nhiêu năm làm tiền giả, tôi nào có biết làm gì khác hơn ! Vì thế, nhân cơ hội tiền Euro ra đời, tôi nghĩ rằng chỉ có cách tiếp tục theo nghề làm tiền giả để kiếm sống. Vì thế, tôi mới lặn lội sang đến tận đây, tìm kiếm nơi tạm trú rẻ tiền để sản xuất tiền giả.

Châm một điếu thuốc, Ronald nói tiếp sau làn khói mờ :
– Thật ra khi sang đây, trong túi tôi chỉ còn hơn 2000 USD tôi ăn cắp được trong kho tiền giả. Một phần chi phí đã phải trả cho tiền di chuyển từ Hungary đến xứ này, một phần tiền tôi phải xử dụng để tạm sống qua ngày cho tới khi tìm ra phòng trọ của ông. Lúc thanh toán tiền phòng cho ông hết 560€ cho một tháng tiền đặt cọc, một tháng tiền phòng, tôi chỉ còn gần 700€. Với số tiền đó, tôi phải chắt chiu để mua hóa chất, máy móc. Nhìn về phía máy in tiền, Ronald nói tiếp : Do đó, tôi đành phải mua cái máy nhỏ này với số tiền chỉ còn vỏn vẹn hơn 300€.

An ngắt lời :

- Mỗi ngày anh sản xuất được bao nhiêu tờ giấy bạc ? Anh sản xuất tiền giả vào lúc nào ? Khi mà anh vắng mặt cả ngày ?

- Trên thực tế thì tôi chỉ làm tiền giả vào ban đêm, sau đó tôi trộn bột làm giấy. Ban ngày tôi đem số tiền sản xuất của đem trước đến một thành phố cách xa đây khoảng hơn 100 cây số để tiêu thụ, để đổi ra những tờ bạc thật nhưng có mệnh giá nhỏ hơn như 5, 10€ cho tờ 20€ giả hoặc mệnh giá 20, 10, 5€ cho tờ tiền giả 50€.những tờ tiền thật đó, tôi đem bỏ vào các tài khoản ngân hàng mà tôi mở ở vài nơi khác nhau. Nhưng tiếc là cái máy in này quá nhỏ, nên tôi chỉ in mỗi đêm được tối đa 10 tờ. Hôm qua là lần đầu tiên tôi thử in tờ giấy tiền 50€.

An chặn lời :

- Anh bắt đầu làm tiền giả được bao nhiêu lâu rồi ?

- Tôi dọn đến đây ở đã gần 8 tháng, một tháng sau là tôi đã sản xuất được một loạt tiền giả để trả tiền nhà cho ông. Ronald vừa dứt câu đã gục đầu vào hai bàn tay, vuốt lại mái tóc rất nghệ sĩ.

- Thế là suốt 7 tháng xử dụng tiền giả, anh chưa bao giờ bị phát hiện ?

- Chưa.

Ngừng một chút, Ronald nói tiếp:

- Ông có thể lấy hai tờ 50€ và hai tờ 20€ đang phơi trên giây để đi dùng thử, ông sẽ rõ.

Ronald vừa dứt lời, An nhanh nhẹn gỡ bốn tờ giấy bạc, hắn đưa lên dưới ánh đèn để quan sát. Sau đó, hắn lấy từ trong túi một tờ 50€ của hắn ra để so sánh với tờ tiền mà hắn vừa gỡ trên dây xuống. Sau vài phút lật tới, lật lui tờ giấy bạc. An nói:

- Quả là tinh vi thật đấy, tôi chưa tìm ra chỗ khác biệt giữa hai tờ giấy bạc. Thôi được, anh cứ tiếp tục việc anh làm như mọi ngày, tôi sẽ không làm phiền anh nữa. Bây giờ tôi sẽ đem các tờ giấy bạc này đi thử. Nếu quả thật nó không bị phát hiện, chúng ta sẽ có cơ hội hợp tác với nhau đấy. Anh đừng quên là nếu anh bỏ trốn khỏi đây, tôi sẽ tố cáo anh. Lúc đó anh chỉ có chạy lên trời. Thôi, tôi đi đây, hẹn gặp lại.

Dứt lời, An bỏ đi sau khi đã cẩn thận khóa cửa lại. Về đến nhà, An cất khẩu súng ngắn vào tủ, thay bộ quần áo sạch đẹp, vuốt ve lại vài cọng tóc còn xót lại trên đầu trước khi rời khỏi nhà, không quên kiểm tra lại bốn tờ giấy bạc vừa lấy từ phòng trọ của Ronald Hắn xếp lại cẩn thận bỏ vào trong túi áo trước ngực.

Bước vào quán cà-phê cách nhà khoảng vài chục mét, An gọi một cốc bia hơi. Uống xong ly bia, hắn đến bên quầy trả tiền cho chủ quán, vừa móc túi trả tiền, hắn vừa nói:

- Tiền giả đó nghen, nhận rồi mai mốt đừng bảo tôi không báo trước.

Hắn vừa dứt lời dăm ba người khách ngồi gần đó đều hướng mắt về phía hắn. Người chủ quan thì bán tín, bán nghi, lật tới lật lui để quan sát tờ giấp bạc, sau đó ông ta cất vào ngăn tiền cùng lúc lấy tiền thừa hoàn lại cho An, ông nói:
– OK tiền của anh là tiền giả, nên tiền tôi thối lại cho ông cũng là tiền giả luôn….
Mọi người cười ầm cả lên, ngay cả An cũng cười, nhưng hắn cười vui mừng vì phép thử thứ nhất của hắn đã thành công. Ung dung về nhà, An vừa đi, vừa huýt sáo, sự vui mừng lộ hẳn trên gương mặt.

Sáng hôm sau, hắn ra chợ mua vài món hàng tiêu dùng linh tinh, ra đến chỗ tính tiền, An cũng vẫn chơi trò cũ, hắn móc tờ giấy bạc 20€ của Ronald ra trả, vừa đưa tiền cho cô thu tiền hắn vừa nói:

- Tiền giả đấy nhé, nhận rồi thì sau này đừng trách tôi là không báo trước.

Là sinh viên làm việc tạm trong kỳ nghỉ ở siêu thị, khi nghe An nói thế, cô bé phát hoảng vội lấy tờ giấy bạc đưa vào máy kiểm tra.Thấy máy không có tín hiệu gì báo tiền giả, cô bé, cất tiền vào két, cô nói:

- Ông đùa vui qúa. Cám ơn ông đã báo cho tôi biết đấy là tiền giả. Thôi thì ông dùng tiền giả trả cho tôi, tôi cũng hoàn lại ông số tiền thừa bằng tiền giả luôn.

- Ôi, cô không tin thì thôi, sau này đừng trách tôi nhé. An vừa nói vừa tươi cười chào cô bé thu ngân.
Hắn thong thả rời siêu thị, rồi lập tức đến một ngân hàng quen gần đó, vào đến nơi sau khi chào mọi người, hắn móc trong túi tờ giấy 50€ đưa cho nhân viên ngân hàng. Hắn nói:

- Ông có thể đổi cho tôi tiền lẻ được không ? Tôi cần tiền lẻ để trả tiền máy parking.

- Vâng, ông muốn đổi như thế nào ? Nhân viên ngân hàng nói.

Vừa móc tiền trong túi, An vừa nói:

- Tôi chỉ có tờ 50€ này thôi, các ông có thể đổi cho tôi hai tờ 20€, một tờ 5€ và năm đồng tiền 1€ được không ạ. Ông có thể kiểm tra-Hắn cười cợt –Tôi xài tiền giả đó.

DVTN2

Nhân viên cầm tờ giấy bạc xoay tới, xoay lui cả hai mặt rồi đưa tờ giấy 50€ vào máy kiểm tra tiền giả. Sau khi kiểm tra xong, anh ta nói:

- Lần sau mà ông có tiền giả tốt như vậy, ông nhớ đem kha khá đến đây để mở tài khoản nhé.

Các nhân viên phục vụ của ngân hàng đều cười vang lẫn với tiếng cười của An…

Nhận tiền xong, An hớn hở quay về nhà, trên đường về, An vẽ ra cả trăm viễn tượng tươi sáng. Hắn tự nhủ, qua ba lần kiểm tra, hai lần đưa vào máy mà vẫn không phát hiện được thì quả là tài tình, hắn thầm thán phục tài năng của Ronald An sẽ cương quyết bằng mọi giá phải thuyết phục Ronald hợp tác với hắn.

Nhưng khi An mở cửa phòng, thì Ronald đã không còn ở trong đó nữa.Chưa kịp nổi cơn tức giận hắn đã nhận ra một tờ giấy dán trên tường viết : “Ông yên tâm, tôi chỉ vắng mặt vài tiếng ngắn ngủi để đi đổi tiền, vì sắp đến ngày phải trả tiền phòng cho ông, đêm nay tôi sẽ về đến nhà khoảng 21 giờ”.

Kỳ cuối : Bí mật trong những chiếc thùng gỗ.

21 giờ 18 phút, An gõ cửa phòng trọ của Ronald và rất lịch sự giới thiệu tên của mình trước khi bước vào. Thấy Ronald đang cặm cụi khắc, chạm trên một khung gỗ. An nói:
– Anh đang làm gì đó ?
– Sáng nay tôi phát hiện tờ giấy 100€ quả thật là còn dễ làm giả hơn tờ 50€. Tôi định sẽ phải sản xuất giấy bạc 100€. Như vậy sẽ có lợi hơn vì bây giờ những gì tôi làm ra đều phải chia đôi với ông. Với lại, cái máy này rất khó in ! Mỗi đêm tôi chỉ in được tối đa 8 tờ, trung bình là 6 tờ !

- Cái máy này chỉ in được có 6 tờ một đêm thôi à ? Sao lại thế ?

Ronald giải thích:

- Như tôi đã nói với ông lần trước là khi đó tôi chỉ còn lại có gần 700€, tôi cứ tưởng là sẽ không mua được máy in là tôi sẽ phải quay trở về Hungaria. May mắn làm sao, phút chót tôi tìm thấy cái máy này ở chỗ bán sắt vụn, tôi phải năn nỉ mãi hắn mới để lại cho tôi với cái giá chưa đến 400€. Với cái máy này, tôi phải làm nhiều thao tác, phải quay bằng tay, phải thay bản kẽm cho mỗi màu v.v… do đó mỗi đem tôi chỉ có thể in được tối đa tám tờ giấy bạc… nếu lúc đổi bản kẽm mà có lỗi thì chỉ còn lại có sáu tờ ! Vì thế, tôi mới định in mệnh giá 100€…

An cướp lời :

- Không, không nên sản xuất mệnh giá 100€, tờ đó khó tiêu thụ. Hãy cứ tiếp tục sản xuất mệnh giá 50€.

Ronald cãi:

- Với sáu tờ một đêm thì làm sao tôi và ông phải chia cho nhau đến bao giờ tôi mới có thể bỏ nghề ?

An đưa tay ra hiệu cho Ronald im lặng, hắn nói:

- Nếu ta mua một cái máy tốt hơn thì sẽ in được bao nhiêu tờ mỗi đêm ?

Ronald suy nghĩ vài phút rồi trả lời:

- Tất cả còn tùy vào túi tiền, nếu mua một máy thuộc loại trung bình, ta có thể in được hai mươi tờ một đêm. Nếu máy tốt hơn do Heidelberg sản xuất thì ta có thể in mỗi đêm từ bốn chục đến năm chục tờ.

An nói:

- Máy chất lượng trung bình thì mỗi đêm sẽ thu hoạch được 1000€. Máy tốt thì sẽ thu hoạch được 2000€. Vậy theo anh thì máy loại tốt giá cả là bao nhiêu ?

- Tất cả còn tùy, nhưng một trong những điều kiện cần thiết là máy in phải chạy rất êm để không gây sự chú ý của hang xóm.

- Không sao, chuyện hàng xóm, hoặc tôi sẽ đuổi bớt vài người hoặc anh sẽ đặt máy dưới hầm của căn nhà tôi định cho thuê cách đây vài chục thước, An… nói.

- Nếu vậy ngày mai tôi sẽ đưa ông đi xem máy để ông biết giá. Nhưng tôi đề nghị với ông là chúng mình chỉ đi xem giá thôi, tuyệt đối không nới chuyện với người bán hang để tránh gây cho họ sự chú ý. Sau đó chúng ta sẽ bàn bạc nên hay không nên mua loại máy nào. Ông đồng ý không ? Ronald nói.

An :

- Đồng ý, sáng mai chúng ta sẽ đi xem máy. Chúc anh ngủ ngon.

Sáng hôm sau, An đến đón Ronald cả hai đều dùng xe buýt để đi tham quan các cửa hàng của thành phố. Sau đó, cả hai dùng xe lửa để sang một thành phố của Đức gần biên giới. Ở đây, Ronald chỉ cho An một cái máy in hiệu Heidelberg. Giá ghi trên máy là 99.899€ cho cái rẻ nhất mà Ronald bảo đảm sẽ có thể in được từ bốn chục đến năm chục tờ mỗi đêm. Tuy nhiên theo anh ta thì máy này sẽ rất ồn. Đưa An đi xem một cái máy khác gọn hơn máy trước một tý nhưng có năng xuất cao hơn, động cơ điện tử nhiều hơn cơ khí nên máy sẽ chạy êm hơn, hầu như không có tiếng ồn. Nhưng giá của máy này là 139.990€.

Về đến nhà, An hỏi :
-Máy với giá gần 140.000€ mỗi đêm sẽ in được bao nhiêu tờ ?

Ronald đáp:

- Nếu tôi làm việc năm giờ một đêm thì sẽ có khả năng in được không dưới tám mươi tờ.

An nói:

- Tại sao anh chỉ làm việc có năm giờ một đêm ????

- Ông quên là sau mỗi lần làm việc, tôi phải lau chùi máy, lau chùi bản kẽm, trộn bột làm giấy, pha mực. Ông cứ tưởng là chỉ có in và in thôi à ? Giấy làm tiền đâu phải là giấy vớ vẩn mà ông mua ngoài siêu thị đâu ! Đó là tôi chưa muốn nói đến phải mua một cái máy giặt, máy sấy to hơn để làm cho tiền cũ đi. Ông cũng đừng quên là còn phải thay số trên các tờ tiền nữa.

An nói cộc lốc:
– Cái đó là chuyên môn của anh làm sao tôi biết được. để tôi tính coi nào. Cứ cho là mỗi đêm in được tám mươi tờ, vị chi là 4000€ mỗi đêm. Vậy mỗi đem tôi sẽ phải lấy về 3000€ có nghĩa là sáu mươi tờ. Số 1000€ còn lại sẽ chia đôi cho anh và tôi mỗi đứa mười tờ. Anh nghĩ chia như vậy có công bằng không ? Sau hơn một tháng rưỡi, khi tôi đã lấy lại vốn mua máy, khi đó ta sẽ chia hai phần. Phần của anh là ba mươi tờ, phần của tôi là năm mươi tờ vì tôi bỏ vốn nhiều hơn anh, tôi chi tiền điện nước, tôi dành nhà cho anh đặt máy, ăn ở miễn phí. Nên tôi nghĩ là phần của tôi nhiều hơn không có gì là phi lý cả.

Im lặng suy nghĩ vài phút, Ronald đáp:

- Kể ra thì tôi cũng không thiệt thòi lắm. Ông bỏ vốn, tôi bỏ công, chia phần như vậy cũng hợp lý. Vậy theo ông thì khi nào chúng ta sẽ bắt đầu ?

Lòng tham nổi lên, An trả lời không cần suy nghĩ:

- Càng sớm càng tốt.

Ronald nói:

- Vậy thì ngày mai, ông đi rút tiền cho tôi đi mua máy. Để tránh gây sự nghi ngờ và chú ý của người bán hang cũng như của xóm giềng. Tôi đề nghị với ông là mỗi ngày tôi sẽ đi năm chỗ khác nhau để mua từng bộ phận. Tôi sẽ nói họ đóng thùng kỹ lưỡng để tôi đem hang xuống thẳng căn hầm mà ông định trước cho tôi đặt máy in. Các thùng sẽ chỉ được mở ra khi người thuê nhà đã dọn đi hết. Như vậy họ sẽ không biết là máy gì. Nếu có ai hỏi thì ông cứ nói là đồ bàn ghế để ông sửa nhà.

An gật đầu đồng ý. Ronald nói tiếp:

- Ông không cần đưa hết cho tôi cùng một lúc số tiền lớn như vậy, tôi không thích chút nào. Vậy mỗi lần, tôi đi mua hàng ông chỉ đưa cho tôi số tiền vừa đủ cho từng kiện hàng mà thôi.

Lời nói của Ronald làm cho An yên tâm. Thế là ngay ngày hôm sau, An chạy đi thuê xe cũng như đi rút tiền để Ronald đi mua máy. 18 giờ chiều Ronald về nhà với một thùng hàng bằng gỗ chằng dây kỹ lưỡng.Hai người cẩn thận bê thùng hàng thứ nhất cất xuống hầm. Trước khi ai về nhà nấy, Ronald cẩn thận khóa cửa hầm lại rồi giao chìa khóa cho An.

DVTN3

Và cứ như thế cho đến ngày thừ năm. Trước khì lái xe đi lấy kiện hàng cuối cùng. Ronald nói chuyến này anh ta phải sang tận Thụy sĩ để mua bộ phận quan trọng nhất là phần điện tử, nên hắn dặn An chiều ngày hôm sau An phải có nhà để giúp Ronald đưa kiện hàng dễ vỡ nhất xuống hầm.

Dứt lời, Ronald lái xe đi thẳng cùng với cái vẫy chào qua cửa xe.

Chiều hôm sau, An chờ từ 18 giờ đến gần nửa đêm vẫn chưa thấy Han… về. Hắn thầm nhủ, có thể Ronald đến Thụy sĩ mệt mỏi nên đã ở lại nghỉ một đêm nên có thể đêm sau mới về.

Một ngày, hai ngày, rồi ba ngày không thấy Ronald trở về. An trở nên sốt ruột, bụng dạ không yên.

Đến ngày thứ năm, không còn đủ kiên nhẫn nữa, An quyết định đi ra nhà hầm để kiểm tra các kiện hàng. Đang đến nửa đường, chẳng hiểu nghĩ gì, An quay trở về nhà. Sau đó, hắn trở lại nhà hầm với một tay xà-beng, môt tay kềm cắt thép.

Đứng trước từng thùng hàng, An do dự không biết có nên mở hay không ! Vì hắn sợ một khi thùng hàng được mở ra sẽ gây sự tò mò của người hàng xóm.

Cuối cùng, không còn lựa chọn nào khác, hắn quyết định mở thùng hàng thứ nhất… khi nắp thùng được mở ra. Gương mặt của An tái nhợt. Hắn mở thùng thứ hai, thùng thứ ba, thùng thứ tư… sắc mặt của An trở thành trắng bệch như không còn một giọt máy, hắn ngã quỵ xuống đất ôm mặt khóc nức nở.

Bấy giờ hắn mới hiểu là hắn đã bị lừa. Hắn mất trọng 139.990€ cộng với tiền thuê xe, tiền ăn dọc đường cho Ronald chỉ để đổi lại mớ sắt vụn phế thải trong bốn thùng hàng.

Cái đau nhất của hắn trong vụ này là hắn không thể kiện được Ronald ! Có ai dại dột đến mức đi kiện một kẻ âm mưu với mình để làm chuyện phi pháp hay không ? Chắc hẳn là không.

Hồi kết:

An không phải là kể đầu tiên và duy nhất đã bị Ronald lừa ! Theo nguồn tin thu thập được từ Europol thì có ít nhất bảy người đã từng bị Han… lừa như vậy từ Hòa Lan đến Thụy sĩ, Đức, Bỉ, Pháp (hai lần), Anh. Nhưng vì không có ai dám đưa đơn kiện hắn vì sợ bị ghép vào tội đồng lõa in tiền giả với bản án tối thiểu từ 20 đến 40 năm tù.

Nếu Ronald có bị truy tố thì hắn cũng chỉ thụ án tối đa là 3 năm tù vì tội lừa đảo. Tuy nhiên, vì không gây án mạng, vì thành khẩn nhận tội Ronald giỏi lắm cũng chỉ bị 1 năm tù trong đó có ít nhất là 6 tháng tù treo. Nhưng vì thời gian tạm giam để điều tra, hầu tòa. Khi án xử xong, hắn sẽ được tha bổng tại chỗ.

ĐVTN

Phụ chú: Nhà báo Ngô Nhật Đăng (VN Thời Báo) giới thiệu về anh Đặng Vũ Thanh Nguyên
Đặng Vũ Thanh Nguyên từng là một người lính ở chiến trường Cambodia, sau khi định cư ở Bruxelles anh làm việc cho chính phủ Vương quốc Bỉ trong ngành Tư pháp.Với những đóng góp tích cực cho chính phủ anh được phong tước Hiệp sỹ, được tặng thưởng nhiều Huân chương của chính phủ Bỉ và Pháp trong đó có huân chương cao quý Bắc đẩu Bội tinh.
Đặng Vũ Thanh Nguyên còn có một niềm đam mê đó là viết.Anh kể lại những vụ án mà anh từng tham gia, hấp đẫn không kém những câu chuyện trinh thám từng làm say mê biết bao người.
VNTB trân trọng giới thiệu những tác phẩm của anh, cũng là những kinh nghiệm cho những người muốn theo đuổi cái nghề cực nhọc nhưng không kém lý thú này.

( Tên các nhân vật đã được đổi khác để đảm bảo quyền tự do cá nhân).

 

 

DỰ ÁN LONG THÀNH CÓ CHÍNH ĐÁNG ?

Standard

05/11/2014

Dự án Long Thành có chính đáng?

Nguyễn Đình Ấm

Tiền trảm, hậu tấu

Trước năm 1975, sân bay Tân Sơn Nhất (TSN) có diện tích 3.600 ha, nhưng đến nay chỉ còn 1.150 ha, do chính quyền TP HCM để cho dân tự do lấn chiếm, các đơn vị quân đội, hàng không dân dụng phân, chia cho CBNV xây nhà cửa, công trình vào quỹ đất sân bay. Đây là hậu quả của những bộ óc thiển cận hoặc tham nhũng, có thể họ cho là sân bay chỉ cần những chỗ đang sử dụng mà không biết hoặc cố tình không biết rằng sân bay phát triển theo từng giai đoạn thị trường yêu cầu, phải có quỹ đất để dành cho nó. Thêm vào đó hiện tượng quản lý đô thị “phạt cho tồn tại” làm đầy túi quan chức và dẫn đến sân bay bị nhà cửa thu hẹp.

Sau năm 1975, nhà nước giao TSN cho không quân và dân dụng dùng chung, trong khi hàng không dân dụng phát triển hai con số thì chỉ được sử dụng 205 ha, họat động HK quân sự ngày càng teo tóp chỉ có ít máy bay hoạt động, lại có cả sân bay Biên Hòa gần đó thì chiếm tới 545 ha ở TSN (400 ha dùng chung), dẫn đến nhiều diện tích đất bên quân sự bỏ hoang, biến thành đất ở, cho thuê kiếm lợi cục bộ…

Mặc dù chỉ còn quỹ đất tối thiểu chuyên phục vụ an ninh quốc phòng, nhưng từ những năm 2004, 2005, khi giá đất sốt, các đại gia quân đội đã âm thầm thực hiện dự án sân golf, nhà hàng, khách sạn, khu biệt thự thương mại ở TSN với diện tích 157,6 ha. Đến nay tổ hợp công trình khổng lồ ấy đã gần xong.

Để “yên thân” dự án sân glof mãi mãi, tất nhiên người ta phải làm sao có chỗ thay thế TSN, nghĩa là cần xúc tiến dự án Long Thành (LT). Dự án quy hoạch LT được tiến hành gần như song song với dự án sân golf TSN. Từ nhiều năm nay các đại gia đất ở đây đã chia lô “bán đất gần sân bay Long Thành” đợt 2, đợt 3… Thế là, khi mọi việc đã đâu vào đấy, đến nay họ mới trình quốc hội về dự án Long Thành. Kỳ họp này các đại biểu “của dân, vì dân” mới bàn có thực hiện dự án LT thay TSN hay không. Họ không biết ngượng khi nói TSN chật hẹp (chật hẹp nhưng có 157,6 ha làm sân golf)! Họ không trả lời được câu hỏi: tại sao sân bay Check Lap Kok của Hongkong diện tích xấp xỉ TSN mà người ta làm được sân bay 45-80 triệu khách còn TSN lại không?

Họ đã coi quốc hội là cái gì? Rất may, quốc hội kia có những 500 bộ mặt nên sự thẹn thùng (nếu có) chia đều cũng chẳng đáng là bao!

Mọi “véc tơ” đều theo một hướng

Để thuyết phục dư luận phải xây LT, chủ đầu tư, những “dư luận viên” vệ tinh, cơ quan truyền thông “lề phải”… trổ hết tài năng để định hướng ủng hộ đại gia sân golf.

Đầu tiên họ thổi phồng mức tăng trưởng khách của TSN liên tục “hai con số” đến cả những năm 2050 nên TSN có đến 100 triệu khách/ năm để “dồn” quốc hội đến “chân tường”. Họ bịp dư luận, vì sân bay lúc đầu phát triển bao giờ tốc độ tăng trưởng khách cũng cao nhưng sau giảm dần do thị trường bão hòa, đồng thời có sự san sẻ, cạnh tranh của các sân bay khác, phương tiện khác như tàu hỏa, ô tô cao tốc… Đặc biệt, TP HCM có các sân bay quốc tế xung quanh như Cần Thơ, Phú Quốc…

Sân bay có gần trăm năm phát triển đông khách nhất thế giới hiện nay của nước giàu, nhộn nhịp nhất thế giới (Mỹ) là Hartsfield-Jackson-Atlanta cũng chỉ có 89,3 triệu khác/năm và hàng chục năm nay không tăng nữa. Long Thành ở một đất nước độc tài, nghèo rớt, tham nhũng nhất nhì thế giới, khách du lịch quốc tế đến VN 8 tháng năm 2014 chỉ có 5,4 triệu… lấy đâu ra 100 triệu khách/năm mà phục vụ, cạnh tranh với các cảng HK khác như Bangkok, Singapore, Check Lap Kok, Subang…?

Một lãnh đạo DN sân golf còn trơ trẽn phát biểu “ở các nước sân bay cách thành phố phải trăm km…”. Thực tế không có sân bay nào trên thế giới xa thành phố đến 100 km. Nằm xa TP nhất là sân bay Incheon (Hàn Quốc) cách seoul 70 km vì người ta không tìm đâu ra khu đất bằng đủ làm sân bay ở xứ xở toàn đồi núi… Rồi năm ngoái nhằm đúng dịp Hội đồng nhân dân TP HCM họp thì diễn ra cảnh tốc mái nhà dân để VTV phát phóng sự om sòm ám chỉ TSN không an toàn. Sau đó ngành HKVN vạch trần sự vô lý này, và từ đó không nhà nào bị “tốc mái” nữa (?). Họ tận dụng cả những cá nhân không có “trọng lượng” là bao nhưng kê kích lên để tăng “cường độ” ủng hộ.

Ông Lương Hoài Nam học thương mại HK ở Liên Xô cũ (thời mà nền kinh tế bao cấp vẫn ngự trị nước này) về VN làm trong ban kế hoạch thị trường rồi sang công ty Pacific Airlines. Tại đây ông cùng Bộ Tài chính hy sinh lợi ích công ty HKVN cho chiến lược quảng bá thương hiệu “xuyên châu Á” của Quantas (Úc) là Jetstar (công ty con của Quantas) rồi hãng HKVN mang tên nước ngoài này lỗ 1.300 tỷ VNĐ. Sau đó ông Nam được “dàn xếp” cho đi nghỉ ngơi ở trại giam mấy tháng rồi về làm giám đốc hãng HK Mekong Air. Sau khi Mekong Air phá sản ông lại làm giám đốc cho công ty bay trực thăng Hải Âu mới thành lập… Ông Nam không có nghiệp vụ gì ghê gớm về sân bay nhưng được nhất loạt tôn làm “chuyên gia hàng không” dự các cuộc họp phát biểu ủng hộ nhiệt liệt dự án LT. Rồi ông Lã Ngọc Khuê nguyên thứ trưởng Bộ GTVN phát biểu ủng hộ LT với những thông tin từ những năm 1960… Đặc biệt hơn, ngày 14/10/2014 lãnh đạo tỉnh Đồng Nai còn thông báo một thông tin thuộc cỡ “kinh ngạc” nhất: “99,9% những hộ dân bị ảnh hưởng dự án Long Thành ủng hộ dự án”! Có lẽ nhà nước nên cấp kinh phí để chở dân oan mất đất khắp cả nước về Đồng Nai mà học tinh thần “cách mạng” của dân nơi đây.

Sát ngày quốc hội họp, lãnh đạo Bộ GTVT lại công bố “tập đoàn Nhật tài trợ 2 tỷ đô làm Long Thành”. Có thể họ tưởng nói tiếng Việt thì người Nhật, người Pháp không hiểu, nhưng chỉ sau mấy giờ Nhật đã bác bỏ thẳng thừng thông tin “khôn vặt” kia, rồi lại thông tin đoàn ADPi gì đó của Pháp tài trợ 2 tỷ đô nữa cũng không có nốt! Khi cụt đường về nguồn vốn, các ông xoay đủ ngón như huy động tư nhân nước ngoài đầu tư vì triển vọng có lãi. Nếu dự án LT có triển vọng lãi tốt thì các ông không cần kêu gọi, các đại gia đang xây dự án sân golf, khách sạn, nhà thương mại ngay tại TSN sẽ tiên phong đầu tư để “yên thân” dự án sân golf của họ rồi!

Nếu một việc mà chính đáng thì cần gì phải “ diễn” vở dài và công phu như thế?

N.Đ.A.

Tác giả gửi BVN

Thêm một bài cũng chủ đề sân bay Long Thành (tải từ trang Bauxite VN và nguồn chính từ BBC Việt ngữ)

05/11/2014

Dự án Long Thành bị hỏi nhiều trong Quốc hội

clip_image002

Dự án sân bay Long Thành đang gây tranh luận

Sau một thời gian yên lặng, các ý kiến của quan chức cao cấp Việt Nam về dự án sân bay Long Thành, cách TP HCM chừng 40 km, lại được một số tờ báo đồng loạt nêu ra nhân họp Quốc hội tại Hà Nội.

Trang Tiền Phong hôm nay 4/11/2014 trích lời ông Phạm Quang Nghị nhận định rằng dự án sân bay Long Thành “viết hơi lãng mạn”.

Bài báo chỉ nêu chức danh của ông Nghị là Bí thư Thành ủy Hà Nội, đại biểu Quốc hội, chứ không nói ông cũng là ủy viên Bộ Chính trị, cơ quan quyền lực cao nhất tại Việt Nam.

Nguyên văn câu nói của ông Phạm Quang Nghị là:

“Có chỗ dự án viết hơi lãng mạn, lạc quan, như sân bay Long Thành sẽ tạo ra thành phố sân bay, đô thị sân bay”.

Vẫn trang Tiền Phong trích lời ông Trần Du Lịch, đại biểu Quốc hội từ TP HCM bình luận về tờ trình của chính phủ:

“…về lâu dài phía nam cần một sân bay nữa. Tờ trình nói, dự án sẽ triển khai ngay để năm 2023 xong giai đoạn 1a, nhưng dự án này có cấp thiết không thì đó là vấn đề”.

Cũng một quan chức cao cấp khác của ngành báo Đảng, ông Thuận Hữu, Tổng biên tập báo Nhân dân thì nêu hẳn ba câu hỏi lớn về dự án nhiều tiền này.

Gánh nợ và lo sợ sụp đổ

Trang Tuổi Trẻ trích lời ông Thuận Hữu, ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI phát biểu ở cương vị một đại biểu Quốc hội:

Đất nước có nguồn vốn dồi dào thì làm Long Thành rất tốt, nhưng ta đang giật gấu vá vai cho nên Quốc hội cần cân nhắc thời điểm

Ủy viên Trung ương Đảng, ông Thuận Hữu

“Nói là từ nhiều nguồn vốn, vốn nhà nước, vốn vay, vốn doanh nghiệp… Nhưng tính đi, tính lại rồi cuối cùng cũng là vốn nhà nước. Dù là doanh nghiệp được nhà nước bảo lãnh hay là vốn ODA thì cũng thế thôi. Cũng là con cháu chúng ta gánh nợ công”.

Thậm chí ông còn dùng những từ ngữ rất gần gũi với giới bình dân như ‘giật gấu vá vai’ để nói về kinh tế Việt Nam hiện nay và khuyên không nên chọn thời điểm xây sân bay Long Thành vào bây giờ:

“Theo tôi nên cân nhắc thời điểm đầu tư. Bây giờ nợ công đang nặng, mỗi người dân đang gánh gần 1.000 USD nợ công, thêm dự án lớn vào thì đáng lo ngại.

“Thực sự đất nước có nguồn vốn dồi dào thì làm Long Thành rất tốt, nhưng ta đang giật gấu vá vai cho nên Quốc hội cần cân nhắc thời điểm.”

Có vẻ như tranh cãi quanh dự án sân bay Long Thành nằm trong bối cảnh nhiều đại biểu Quốc hội Việt Nam đang lên tiếng mạnh mẽ khác thường khi đề cập đến các vấn đề họ cho là rất nghiêm trọng của nền kinh tế Việt Nam.

Cũng tường thuật các ý kiến của đại biểu Quốc hội, trang VnEconomy hôm cuối tháng 10 vừa qua trích một nữ đại biểu Quốc hội ẩn danh nói:

clip_image004

Ông Phạm Quang Nghị nói ‘có chỗ dự án viết hơi lãng mạn, lạc quan’

“Tôi đọc đâu đó rằng nền kinh tế Việt Nam giống như cái nhà đã xuống cấp nghiêm trọng, động đến chỗ nào cũng phải sửa, và tôi cứ ám ảnh mãi, suy nghĩ mãi, vì nếu không có nguồn lực để sửa chữa một cách bền vững thì không biết nó sụp lúc nào”.

Cũng vào dịp đó, nguyên Chủ tịch Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), đại biểu Trần Xuân Hòa được trích lời nói:

“Sang năm là 40 năm giải phóng đất nước, ngày xưa mình cứ nói sau 20 – 30 năm thì Việt Nam hóa Rồng, còn bây giờ thì có người nói còn thua cả Lào và Campuchia thì chắc chắn không thể là Rồng được rồi”.

Về dự án Long Thành, ông Trần Xuân Hòa cũng được trích lời mới đây cho ‘niềm tin’ không nên là lý do cho việc cố duy trì dự án tiền tỷ tính bằng USD này.

Ông nói: “Như vụ đăng cai ASIAD 18, Chính phủ đã quyết xong hết rồi nhưng hủy, dân vẫn ủng hộ, quốc tế ủng hộ. Hay chúng tôi làm hai dự án bauxite, sau thấy cảng Kê Gà không hiệu quả cũng bỏ đi, đâu phải vì thế mà mất niềm tin”.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/11/141104_longthanh_quochoi_vn

CHÂN DUNG ÔNG CHỐNG CỘNG

Standard

Ông là ai??? Ông chẳng có gì đặc sắc về ngoại hình. Cao – gầy – thấp – bé – tròn – vuông cũng tùy vào trường hợp ông ở ống hay ở bầu. Giới tính là nam hay nữ cũng chẳng quan trọng nên gọi (mẹ nó) là ông cho gọn. Tuổi của ông cũng “bao la” lắm, có thể đầu đã bạc hoặc có thể tóc lấm tấm muối tiêu mà cũng có thể còn đen nhánh, mũi dãi lòng thòng. Có lúc ông đóng vai một nhà hiền triết nhưng sẳn sàng phừng phừng sân si nếu có ai đó (ngu dại) nói rằng ông không thuộc thành phần chống cộng. Có lúc ông điên điên, dở dở như cụ Chí làng Vũ Đại nhưng dễ dàng nhu mì khi được vuốt ve tán thưởng bằng những lới có cánh “Anh là năm bờ quanh chống cộng!!!”…. Yeahhhh… ông sướng tít mây xanh và hôm đó (chắc chắn) ông bỏ vài đô mua thêm hai lọ sơn: một đỏ, một vàng. Chi vậy??? Hạ hồi phân giải.

Ông chống cộng kinh lắm nhé. Bằng nhiều kiểu cách mà cách nào cũng bằng cái mồm. Có khi ông bỏ nhỏ, rỉ tai “con này là vẹm chính cống còn thằng kia thì ăn phải bả cộng sản”. Hỏi: “Sao biết???”

Ông chắc như bắp: “Chời… con nhỏ đó dzià VN đứng dưới cờ đỏ sao dzàng, trên là khẩu hiệu bác hồ muôn năm mờ. Cả… thế giới biết mà mày hổng chịu biết ” (?!)

Ông vênh váo (tố cáo) “đảng này” ra điệu về VN để đánh bóng chớ đấu tranh cái con khỉ mốc gì. “Tụi nó” có quốc tịch Pháp, Mỹ, Úc đâu sợ bị CS giết mà lo, có lo là lo tốn tiền thuế của bọn mình cho chính phủ phải can thiệp với việt cộng thôi. Còn mấy tay “đảng kia, đảng nọ” chỉ là những cái bóng ma của quá khứ, toàn ngâm bài Nhớ Rừng mí nhau… v.v… (hoặc) “Thằng nọ” có “bách rao” CS nên vẹm mới cho nó ra hải quại lãnh thưởng, “tụi kia” được đào tạo bí mật nên mới nghênh ngang qua ngồi Quốc hội Mỹ để mà quay dzề lại ngon ơ…”.

Hỏi: “Còn thằng kia ăn bả cộng sản ra sao ?”

Ông khệnh khạng ra vẻ biết tỏng tòng tong ba đời dòng họ nội ngoại nhà “nó” mà rằng: “Ông nội nó làm cho dziệt minh, bố nó là dziệt cộng nằm dzùng, sau bảy lăm nhở dzậy mới hông bị đánh tư sản… Nó thao túng triền thông hải quại, có thế mạnh nên khó dzạch mặt nó. Nhưng dzì lương tâm dzà trách nhiệm nên mình phải bỏ công ăn dziệc làm để thí mạng cùi dzí nó.”

“Vậy à??? Vậy thì lấy gì ăn???”

“Mình có “chính nghiã” nên cộng đồng ủng hộ, đóng góp. Mày cũng nên vì trách nhiệm lương tâm mà đóng góp cho… tao.”

Blablabla… Đại loại là như vậy.

img132

Tiá má ơi. Ông đốt cả dãy Trường Sơn mà soi xem ở cái xứ “cộng quà xạo hết chỗ nói” này có công sở nào, hội trường nào mà không có con ma xó họ Hồ đứng rình từng sợi lông… mũi của người ta không chớ. “Đảng này” không về VN thì ông cho là chống cộng bàn phím. “Đảng kia, đảng nọ” có kế hoạch thì phải đệ trình cho ông duyệt hay sao??? Còn cái vụ lý lịch ông nội, ông ngoại người ta tưởng chỉ có thằng vẹm soi mói để “nâng cao quan điểm” thôi ông ơi. Hỏi thử gia đình nào, dòng họ nào mà không có chút liên hệ huyết thống với “phiá bên kia, bên này”??? Ăn thua ở chỗ việc làm ích lợi của người ta cho cộng đồng kià.

Ông “nhỏ nhẹ” không xong thì ông (sẳn sàng) bộc lộ bản chất “chống cộng” thứ thiệt của ông: tặng cho người đối diện cái nón cối và gào thét (hơn cả điên cuồng) YOU’RE VI XI BECAUSE YOU… HỔNG CHỐNG CỘNG NHƯ MI (ME)…”.

Vũ khí của ông đơn giản (bỏ mẹ): sơn vàng tràn mình, sơn đỏ ngậm đầy họng (hàm huyết) và tay lăm lăm mũ cối sao vàng… tự ông sản xuất.

Sau hai mươi năm chiến tranh xương máu tràn lênh vì chủ nghiã điên cuồng nhưng chẳng mấy ai điên cuồng chống cộng kiểu như ông. Sau gần bốn mươi năm lưu biệt hải ngoại, ngậm ngùi cho hàng nửa triệu sinh linh làm mồi cho cá và hải tặc lẽ nào không ai hiểu, để bây giờ chỉ mỗi (duy nhất) loại người như ông – dân buôn nón cối không cần lời- được “độc quyền chống cộng” hay sao ???

Loại người như ông cho dù có ăn mặc bảnh bao, sơn phết vàng rực nhưng (tinh mắt) sẽ thấy rõ sơn đỏ tràn ra khoé mép và một hành trang chống cộng (vay mượn) trần truồng, phá sản dưới dế trên răng.

Vâng, chúng tôi công nhận ông là “năm bờ oanh chống cộng… đồng” một cách điên cuồng nhất với những hành động chụp mũ, bêu riếu những người đang hoặc đã trực diện chống lại bọn phỉ cộng ở ngay trên quê hương Việt Nam. Còn ông, ông nằm ngoài này nếu không ăn queo-phe của chính phủ thì ông cũng ăn vạ cộng động (để chống phá lại cộng đồng) thôi ông ạ.

Nhận diện ra loại như các ông cũng chẳng có gì là khó: THÂN CHÓ, MỒM LOA, MẮT ỐNG DÒM, TAI RADAR, ÓC… HEO ĐẤT RỖNG TUẾCH”.

img131

Viết xong cảm khái vài câu:

Ngồi buồn tháo tất ngửi chơi,
Ngửi xong mới biết sự đời thối tha.
Quét ra rác, bói ra ma…
Tưởng CHỐNG CỘNG SẢN hoá ra CỘNG ĐỒNG.

Than ôi.

Strasbourg, cận kề ngày bức tường ô nhục sụp đổ lần thứ 25.
– KVC -

25 NĂM BỨC TƯỜNG Ô NHỤC SẬP ĐỔ

Standard

Thủ tướng Đức ca ngợi những người phản kháng Đông Đức « dũng cảm »

mediaEast Side Gallery, mảng lớn nhất còn lại của bức tường Berlin, 21/10/2014.REUTERS/Fabrizio Bensch

Gần đến ngày kỷ niệm bức tường Berlin bị xóa bỏ (09/11/1989), hôm nay 01/11/2014, Thủ tướng Đức Angela Merkel đã bảy tỏ sự ngưỡng mộ trước tinh thần can đảm của những người phản kháng chế độ Cộng hòa dân chủ Đức cũ, đồng thời nhấn mạnh vai trò của họ trong việc xóa bỏ bức tường Berlin.

Trong một thông điệp phát thanh hàng tuần, Thủ tướng Đức đã ca ngợi những người tham gia vào các phong trào công dân, đối lập dân chủ với chế độ Đông Đức là những người « quả cảm ».

Thủ tướng Đức nói : « Họ đã đem đến cho những người khác lòng can đảm », đặc biệt đối với « hàng nghìn, hàng triệu người » đã tham dự vào các « cuộc biểu tình ngày thứ Hai », ban đầu nổ ra ở Lepzig rồi sau đó lan ra các thành phố khác của Cộng hòa dân chủ Đức. Các cuộc biểu tình đó đã làm lung lay chế độ Cộng sản. Thủ tướng Đức nói rõ là nếu không có những con người như vậy thì « toàn bộ tiến trình đó sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều (…) Chính vì thế chúng ta phải cảm ơn họ rất nhiều ».

Cũng từng là công dân của Cộng hòa dân chủ Đức, bà Merkel đã gợi lại những « cảm xúc không thể tả được » vào cái ngày 09/11/1989 khi bức tường Berlin bị sụp đổ. Bà nhớ lại tối hôm đó bà đã cùng một người bạn đi tắm hơi trước khi ra phố nhập vào đoàn người tuần hành. Thủ tướng Đức thổ lộ bà không bao giờ quên được cái cảm giác khó tả đó, và bà vẫn còn cảm nhận lại ngày nay mỗi lần đi qua cổng Brandebourg, biểu tượng của sự chia cắt thành phố Berlin thời chiến tranh lạnh.

Thủ tướng Đức cũng thừa nhận 25 năm sau Bức tường sụp đổ, khoảng cách khác biệt giữa hai miền đông tây nước Đức vẫn tồn tại. Tuy nhiên theo bà Merkel, « thế hệ mới ngày nay đoàn kết gắn bó », khoảng cách đang được thu hẹp dần và có được điều này là « nhờ sự giúp đỡ phi thường của Tây Đức cũ ».

Ngày 9/11 tới đây, nước Đức sẽ kỷ niệm 25 ngày bức tường Berlin bị xóa bỏ. Nhân dịp này một loạt các hoạt động lễ hội dự kiến sẽ được tổ chức, đặc biệt tại cổng Brandebourg lịch sử.LoiKhuyenVang